Thứ 4, 08/07/2020 - 15:41

Các dạng thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh

Trong dài hạn mục tiêu của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là gia tăng lợi nhuận.

Nhưng tùy vào vị trí của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan, cấu trúc thị trường và chiến lược cạnh tranh mà hành vi của doanh nghiệp trong ngắn hạn sẽ là các hành vi bóc lột khách hàng để gia tăng lợi nhuận ngay lập tức hoặc là thực hiện các chiến lược ngăn cản, loại bỏ đối thủ cạnh tranh nhằm củng cố vị trí và tăng giá để đạt lợi nhuận tối ưu trong tương lai.

Nhưng tự thân các thỏa thuận HCCT nói chung và TTSDG để hạn chế cạnh tranh luôn tồn tại những mâu thuẫn mang tính bản chất. Mâu thuẫn đó xuất phát từ sự khác biệt về chi phí sản xuất giữa các doanh nghiệp. Khi tiến hành thỏa thuận ấn định giá, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải xác lập một mức giá chung. Nhưng vấn đề là các doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao luôn có mong muốn được xác lập mức giá cao, trong khi doanh nghiệp có chi phí sản xuất thấp thì có khuynh hướng xác lập mặt bằng giá ở mức thấp hơn. Điều này làm cho phân chia lợi ích trong nhóm thỏa thuận trở nên không đồng đều, và đó cũng là lúc các doanh nghiệp có khuynh hướng phá vỡ thỏa thuận. “Đây là những vấn đề cố hữu của các thỏa thuận HCCT. Điều này góp phần lí giải tại sao có những ngành các thỏa thuận ấn định giá có khuynh hướng bị phá vỡ trong dài hạn và tại sao các doanh nghiệp có khuynh hướng hạn chế cạnh tranh bằng cách khác thay vì bằng cách hạn chế cạnh tranh một cách trực tiếp thông qua chiến lược giá”.

Thỏa thuận sử dụng giá để bóc lột khách hàng

Mục đích của việc thỏa thuận thống nhất hành động là nhằm giả lập vị trí của doanh nghiệp độc quyền hoặc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan, qua đó hướng đến tăng giá bán hàng hóa cao hơn mức của thị trường cạnh tranh.

Xét ở khía cạnh giá, hành vi thỏa thuận sử dụng giá để bóc lột khách hàng được hiểu là việc các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan thỏa thuận thống nhất hành động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp xác lập mức giá của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan nhằm thu lợi bất chính.

Theo đó, hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất áp dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống nhất về giá hàng hóa, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng.

Qua khái niệm này, có thể nhận diện các thỏa thuận ấn định giá thông qua các dấu hiệu sau:

Thứ nhất: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cạnh tranh trên cùng thị trường liên quan.

Có sự khác nhau rất lớn về vai trò của doanh nghiệp độc quyền và doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh. Sự khác biệt lớn nhất đó là doanh nghiệp, bằng sức mạnh thị trường của mình, có thể gia tăng lợi nhuận thông qua việc tăng giá hoặc tăng sản lượng trên thị trường liên quan. Trong khi đó, doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh không thể hoặc tiến hành các hành vi này ở giới hạn rất hạn chế.

Một doanh nghiệp duy nhất trên thị trường liên quan (doanh nghiệp độc quyền) sẽ quyết định sản lượng ngành tại điểm tối đa hóa tổng lợi nhuận. Cho nên, một vài doanh nghiệp trong một ngành cũng có thể tối đa hóa tổng lợi nhuận bằng cách xác định tổng sản lượng của họ nếu họ hành động như một doanh nghiệp độc quyền.

Theo WB, “nếu các bên tham gia thỏa thuận không kiểm soát một thị phần đủ lớn, có thể kết luận rằng thỏa thuận đó không có khả năng hạn chế cạnh tranh”.

Thứ hai: Công cụ được sử dụng bởi các doanh nghiệp là công cụ giá.

Nhìn từ góc độ qui luật cầu, khi giá hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường liên quan tăng quá một ngưỡng nhất định, người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua hàng từ doanh nghiệp đối thủ. “Thị trường liên quan, nơi mà cung và cầu tương tác lẫn nhau, tạo thành một khuôn khổ để phân tích làm nổi bật những khía cạnh hạn chế cạnh tranh mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Mục tiêu xác định thị trường liên quan là xác định các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong một sản phẩm nhất định và khu vực địa lý để xác định liệu các công ty khác có thể hạn chế hiệu quả đến giá cả hàng hóa như là cáo buộc đối với một doanh nghiệp độc quyền hay không”. Cho nên, mục đích của việc thống nhất hành động của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan để nhằm bảo đảm rằng, khi doanh nghiệp tăng giá bán, hành động này xảy ra mang tính đồng loạt và thống nhất đối với tất cả các doanh nghiệp đã tham gia thỏa thuận. Qua đó, người dùng sẽ không có cơ hội lựa chọn khác ngoài việc chấp nhận mức giá bán cao. Cũng vì vậy, trên thực tế, để một thỏa thuận ấn định giá có thể thành công, một trong các tiền đề yêu cầu đó là số lượng doanh nghiệp trên thị trường liên quan là giới hạn và sẽ là lý tưởng nếu như 100% các doanh nghiệp này cùng tham gia thỏa thuận thống nhất hành động.

Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ và thỏa thuận ấn định sản lượng có mối liên hệ mật thiết với nhau, trong nhiều trường hợp là không tách rời nhau. Một khái niệm có liên quan trong trường hợp này là độ co giãn của cầu theo giá. Qui luật về cầu xác định rằng khi giá hàng hóa giảm thì nhu cầu đối với hàng hóa sẽ tăng lên. Sự thay đổi về cầu theo giá đo lường sự thay đổi của tổng lượng cầu thay đổi khi giá hàng hóa thay đổi. Cầu về hàng hóa được coi là co giãn nếu tổng lượng cầu thay đổi khi giá hàng hóa thay đổi. Cầu được coi là không co giãn khi chỉ có một lượng nhỏ nhu cầu thay đổi trước sự biến động về giá.  Sự thay đổi về cầu theo giá của bất kì hàng hóa nào đo lường ý định của người dùng sẽ mua ít hơn như thế nào khi phản ứng lại với sự tăng giá bán của hàng hóa đó. Cho nên, trong trường hợp đối với những loại hàng hóa có độ co giãn cao, tức là người tiêu dùng sẽ giảm lượng cầu mạnh khi giá hàng hóa tăng, thì cách hợp lí để gia tăng lợi nhuận đó là các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận sẽ giảm giá bán hàng hóa để bán được nhiều hàng hóa hơn.

Có thể hình dung khía cạnh này thông qua sơ đồ sau: 

Giả định rằng, mức giá thị trường của hàng hóa đang ở mức P1. Tương ứng với mức giá này, sản lượng tiêu thụ trên thị trường là Q1. Theo qui luật về cầu, khi giá hàng hóa giảm, thì nhu cầu của khách hàng đối với hàng hóa sẽ tăng. Cho nên, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận ấn định giá hàng hóa sẽ giảm giá từ P1 xuống P2, tương ứng tổng lượng hàng hóa sẽ gia tăng từ Q1 lên Q2. Vấn đề là trên thực tế, doanh nghiệp sẽ xác định mức giá P2 ở điểm mà diện tích của tứ giác OP2BQ2 sẽ lớn hơn OP1AQ1. Phần chênh lệch này, chính là lợi nhuận gia tăng mà các doanh nghiệp sẽ đạt được thông qua thỏa thuận. Cho nên trong trường hợp này, muốn xác định mức giá mong muốn, xét về khía cạnh kinh tế, các doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời cả hai chiến lược ấn định giá và thỏa thuận cắt giảm sản lượng hàng hóa.

Nhưng trong trường hợp độ co giãn về cầu theo sự thay đổi giá là thấp, có nghĩa là phản ứng của người tiêu dùng khi giá hàng hóa gia tăng, chỉ có một lượng nhỏ người dùng giảm nhu cầu mua hàng khi giá hàng hóa gia tăng. Có thể hình dung thông qua sơ đồ sau:

Ví dụ tương tự trên, mức giá P1 tương ứng với lượng cầu là Q1. Dựa trên mối quan hệ giữa giá và cầu, thông thường thì khi giá tăng, nhu cầu sẽ giảm. Theo đó, Q1 sẽ dịch chuyển sang bên trái. Nhưng vì ở đây đang xét ở trường hợp hệ số co giãn của cầu là thấp, nên mặc dù giá tăng nhưng cầu không giảm. Trong trường hợp này, về khía cạnh kinh tế xảy ra hiện tượng “sự dịch chuyển đường cầu”. Theo đó, đường cầu của hàng hóa sẽ dịch chuyển về phía bên phải. Như vậy doanh nghiệp có thể tăng giá từ P1 lên mức P3, nhưng vẫn bảo đảm tổng lượng cầu là không đổi. Cho nên có thể xác định: doanh thu của doanh nghiệp bằng giá (P) nhân với tổng sản lượng (Q). Khi giá tăng, sản lượng không đổi, có nghĩa là doanh thu của doanh nghiệp qua đó cũng gia tăng. 

Thứ ba: Mục đích của các thỏa thuận ấn định giá nhằm thống nhất hành động giữa các doanh nghiệp, qua đó gia tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận bằng việc ấn định giá cao hơn nhằm bóc lột khách hàng.

Luật sư Phạm Hoài Huấn
Tác giả: Luật sư Phạm Hoài Huấn
Tin liên quan