![]() |
| Nhờ chương trình OCOP khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được thu hẹp, giúp những sản vật của làng quê có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn. |
Cách OCOP tạo ra nguồn thu nhập ổn định tại nông thôn
Thực tế cho thấy, phần lớn hộ nghèo, cận nghèo ở nông thôn đều gắn với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, thiếu vốn, thiếu kỹ năng thị trường và dễ bị tổn thương trước biến động giá cả. Khi tham gia Chương trình OCOP, người dân không chỉ được hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, mà còn được tiếp cận kiến thức về quản trị, marketing, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ.
Khi sản phẩm OCOP đạt chuẩn 4, 5 sao, nó không chỉ mang lại lợi nhuận cao hơn cho nông dân mà còn giúp địa phương xây dựng hình ảnh thương hiệu (Regional Branding). Điển hình như việc chuẩn hóa OCOP giúp các mặt hàng nông sản như cải thảo của Văn Đức (Hà Nội) bước vào hệ thống siêu thị và xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Hàn Quốc. Qua đó tạo ra dòng tiền ngoại tệ và sự ổn định về đầu ra, giúp người dân tránh được cảnh “được mùa mất giá”.
Bên cạnh đó, các mô hình OCOP thành công cũng giúp thu hút đầu tư vào khu vực nông thôn, từ đó tạo ra việc làm tại chỗ, giảm áp lực di cư lao động. Cụ thể, các mô hình OCOP như trà Shan Tuyết Phìn Hồ (Hà Giang) hay Đông trùng hạ thảo (Lâm Đồng) đã tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động tại địa phương, đặc biệt là nhóm lao động trung niên và lao động nữ – nhóm vốn khó tiếp cận các khu công nghiệp.
Điểm nổi bật của giai đoạn hiện nay là OCOP không còn dừng lại ở việc chuẩn hóa sản phẩm, mà được gắn kết chặt chẽ với chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị. Từ quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu đến quảng bá, kết nối thị trường và tiêu thụ sản phẩm đều từng bước được số hóa. Nhờ đó, khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được thu hẹp, giúp những sản vật của làng quê có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn.
Nhiều chủ thể OCOP đã chủ động xây dựng quy trình sản xuất - kinh doanh khép kín, làm chủ chất lượng sản phẩm, thương hiệu và đầu ra thị trường. Cùng với hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương được đẩy mạnh, nhiều sản phẩm OCOP từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, mở rộng hệ thống phân phối và ký kết các hợp đồng tiêu thụ ổn định.
| Tính đến năm 2025, cả nước có gần 17.500 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, tăng gấp nhiều lần so với giai đoạn đầu triển khai và vượt xa mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, sản phẩm 3 sao chiếm hơn 72%, sản phẩm 4 sao chiếm 27,1% và đã có 126 sản phẩm được công nhận 5 sao, được xem là những “đại diện quốc gia” của OCOP Việt Nam. |
Khi giá trị kinh tế tại địa phương được nâng cao, người dân có thu nhập ổn định ngay trên mảnh đất của mình giúp giảm áp lực di cư. Lao động nông thôn, đặc biệt là người trung niên hoặc phụ nữ, không còn phải ly hương để tìm việc làm tại các khu công nghiệp mà có thể tham gia vào các khâu chế biến, đóng gói, quảng bá sản phẩm ngay tại địa phương. Đơn cử như sản phẩm Gạo sạch Mường Lò (Yên Bái) hay Nước mắm Cát Hải (Hải Phòng), sau khi được công nhận OCOP, đã tăng cường kết nối chuỗi giá trị, tạo việc làm ổn định, đặc biệt cho lao động nữ và hộ nghèo tại địa phương, góp phần giảm nghèo bền vững thông qua phát triển kinh tế tập thể.
Không những thế, OCOP còn khuyến khích khai thác những nét văn hóa đặc trưng, những làng nghề truyền thống. Điều này giúp kinh tế nông thôn không chỉ phát triển mà còn giữ được “hồn cốt” của địa phương, từ đó tạo nền tảng cho phát triển du lịch nông thôn.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đến nay đã được triển khai đồng bộ tại 100% tỉnh, thành phố trên cả nước. Tính đến năm 2025, cả nước có gần 17.500 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, tăng gấp nhiều lần so với giai đoạn đầu triển khai và vượt xa mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, sản phẩm 3 sao chiếm hơn 72%, sản phẩm 4 sao chiếm 27,1% và đã có 126 sản phẩm được công nhận 5 sao, được xem là những “đại diện quốc gia” của OCOP Việt Nam.
Cũng theo báo cáo của cơ quan quản lý, hơn 60% chủ thể OCOP có doanh thu tăng, giá bán sản phẩm sau khi được công nhận OCOP tăng bình quân trên 12%. OCOP cũng góp phần thúc đẩy sinh kế cho phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế, đồng thời tạo động lực khởi nghiệp ở nông thôn.
Điển hình như sản phẩm Đông trùng hạ thảo của Công ty TNHH Dược thảo Trường Sơn (Lâm Đồng) là sản phẩm OCOP 5 sao, mô hình này không chỉ tạo ra sản phẩm chất lượng cao mà còn là hình mẫu về ứng dụng công nghệ, tạo ra chuỗi giá trị lớn, từ đó gián tiếp hỗ trợ thu nhập cho người dân địa phương thông qua cung cấp nguyên liệu, dịch vụ. Hay sản phẩm trà Shan Tuyết Phìn Hồ (Hà Giang) đạt chuẩn OCOP 5 sao đã giúp sản phẩm trà cổ thụ của đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng cao nâng tầm thương hiệu, đảm bảo đầu ra ổn định với giá trị cao, giúp nhiều hộ gia đình thoát khỏi cảnh bấp bênh về kinh tế.
Để OCOP thực sự là “đòn bẩy” chứ không phải là phong trào “đếm số”
Thực tế cho thấy, thách thức lớn nhất hiện nay của hiệu quả OCOP là tình trạng “trăm hoa đua nở” nhưng thiếu chiều sâu, sản phẩm chưa có sự khác biệt lớn hoặc năng lực quản trị của các chủ thể OCOP còn hạn chế. Hầu hết các sản phẩm OCOP vẫn tập trung ở mức 3-4 sao, trong khi việc đạt chuẩn 5 sao và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, kiểm dịch để xuất khẩu chính ngạch vẫn là một rào cản lớn, đòi hỏi đầu tư mạnh mẽ hơn vào khoa học công nghệ.
Bà Nguyễn Thị Hồng, Chuyên viên chính Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, các sản phẩm 3 sao về cơ bản chỉ có khả năng cạnh tranh trong phạm vi hẹp và rất khó thâm nhập sâu vào các hệ thống phân phối hiện đại ở quy mô quốc gia hay quốc tế.
Thực trạng này cho thấy, nhiều chủ thể OCOP vẫn đang sản xuất dựa trên kinh nghiệm truyền thống và cảm tính, trong khi chưa thực sự hiểu rõ thị trường đang cần gì, đòi hỏi gì ở một sản phẩm hàng hóa. Khoảng cách giữa “đặc sản địa phương” và “sản phẩm thị trường” vì thế vẫn còn khá xa.
Giai đoạn 2026–2030, bối cảnh phát triển đã thay đổi. Yêu cầu về phát triển xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và chuyển đổi số ngày càng rõ nét. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam nhận định, OCOP cần một cách tiếp cận mới, vừa khắc phục những hạn chế tồn tại, vừa tạo sức sống và giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm.
Điều đó đồng nghĩa với việc xúc tiến thương mại OCOP không thể tiếp tục theo lối mòn. Trọng tâm cần chuyển sang phát triển sản phẩm theo chiều sâu, gắn chặt với vùng nguyên liệu, văn hóa và tri thức bản địa; nâng cao chất lượng theo hướng xanh, bền vững; đầu tư bài bản cho bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm và thương hiệu. Quan trọng hơn, OCOP cần được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với du lại tại mỗi địa phương, lễ hội văn hóa và các không gian trải nghiệm mở.
Thời gian tới, để OCOP thực sự là đòn bẩy cho giảm nghèo bền vững, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện hạ tầng số, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi để doanh nghiệp trở thành “đầu tàu” dẫn dắt chuỗi giá trị.
Các địa phương cần tiếp tục nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn hóa sản phẩm theo yêu cầu thị trường, khuyến khích sáng tạo để tạo ra các sản phẩm độc đáo, có giá trị kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong mọi khâu, từ quản lý, sản xuất đến xúc tiến thương mại.
Chương trình OCOP đã khẳng định vai trò là giải pháp căn cơ, hiệu quả để khơi dậy tiềm năng nội lực của từng vùng đất, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển theo chuỗi giá trị, kiến tạo một nền tảng vững chắc, giúp người dân, đặc biệt là các hộ nghèo tại vùng khó khăn, nâng cao năng lực tự chủ, chuyển từ hình thức hỗ trợ sang phát triển kinh tế nội sinh bền vững. Với tầm nhìn đến năm 2030, OCOP sẽ tiếp tục là động lực nội sinh mạnh mẽ, không chỉ hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo đa chiều mà còn kiến tạo nên những miền quê Việt Nam: Xanh trong sản xuất, sinh thái trong môi trường và thịnh vượng trong đời sống.



