Cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, nhiệm kỳ khóa XVI ngày 28/9, các đại biểu cơ bản nhất trí với việc sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng ưu đãi thuế có trọng tâm, hỗ trợ mặt bằng thực chất, bảo đảm nguồn lực đến đúng doanh nghiệp và hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách.

Phân tầng ưu đãi thuế
Tại phiên thảo luận, các đại biểu đánh giá việc chuyển từ Luật Hỗ trợ DNNVV sang Luật Phát triển DNNVV thể hiện sự quan tâm lớn hơn đối với khu vực doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Dự thảo Luật có nhiều điểm mới về hỗ trợ nguồn vốn, tăng khả năng tiếp cận thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh và tạo điều kiện cho hộ kinh doanh. Việc địa phương hỗ trợ đơn giản hóa thủ tục hành chính cũng được đánh giá là thiết thực đối với doanh nghiệp.
Trong đó, chính sách về thuế, kế toán tại Điều 9 là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm. Dự thảo quy định doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường; DNNVV được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy - Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên đồng tình với việc sử dụng chính sách thuế để khuyến khích khởi nghiệp, đầu tư và phát triển doanh nghiệp, nhưng đề nghị cân nhắc kỹ quy định miễn thuế 3 năm.
Theo đại biểu, nếu áp dụng trên diện rộng cho toàn bộ DNNVV mới thành lập, chính sách có thể tạo chi phí lớn cho ngân sách nhưng chưa chắc tương xứng với nhu cầu hỗ trợ của từng nhóm doanh nghiệp. Nhu cầu hỗ trợ giữa doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp sản xuất tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề thông thường là khác nhau.
Do đó, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị nghiên cứu phân tầng chính sách thuế, theo đó ưu đãi cao hơn, dài hơn hoặc có điều kiện đối với doanh nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên, có hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sản xuất xanh, tham gia chuỗi giá trị, tạo nhiều việc làm hoặc có khả năng đóng góp lớn cho nền kinh tế.
Đồng thời, cần quy định rõ nguyên tắc không để doanh nghiệp lợi dụng chính sách bằng cách chia, tách, thành lập doanh nghiệp mới hoặc chuyển hoạt động sang pháp nhân mới chỉ nhằm tiếp tục hưởng ưu đãi. Đại biểu cũng đề nghị rà soát sự thống nhất của Điều 9 với pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật chuyên ngành, nhất là nguyên tắc tránh trùng lặp ưu đãi, bảo đảm chính sách vừa có tính khuyến khích, vừa bảo đảm công bằng giữa các doanh nghiệp và khả năng cân đối ngân sách.
Tính thời gian miễn thuế từ khi có thu nhập chịu thuế
Cùng quan tâm đến chính sách miễn thuế, đại biểu Trần Văn Lâm - Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh đề nghị xem xét lại thời điểm bắt đầu tính 3 năm miễn thuế.
Theo đại biểu, những năm đầu hoạt động thường là giai đoạn doanh nghiệp phải đầu tư nhà xưởng, mua sắm thiết bị, tuyển dụng lao động, tìm kiếm khách hàng và xây dựng thị trường. Không ít doanh nghiệp chưa có lãi, lãi thấp hoặc thậm chí bị lỗ.
Nếu thời gian miễn thuế tính từ ngày đăng ký doanh nghiệp, thời gian ưu đãi có thể trôi qua trong khi doanh nghiệp chưa phát sinh số thuế phải nộp. Vì vậy, đại biểu đề nghị thời gian miễn thuế được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, tức từ khi doanh nghiệp bắt đầu phát sinh thuế phải nộp và kéo dài 3 năm.
Đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng cách tính này sát hơn với thực tế, đặc biệt đối với DNNVV mới khởi sự, mới lần đầu đăng ký.
Một nội dung khác tại Điều 9 là cho phép doanh nghiệp có doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng được lựa chọn tính thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập tính thuế hoặc theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu.
Đại biểu Trần Văn Lâm đánh giá đây là hướng có thể giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp mới chuyển đổi. Tuy nhiên, dự thảo mới xử lý phương pháp tính thuế thu nhập mà chưa làm rõ đồng bộ với phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và chế độ kế toán.
Do đó, đại biểu đề nghị rà soát đồng bộ cả thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và chế độ kế toán, đồng thời làm rõ quyền lựa chọn phương pháp tính thuế và bảo đảm cách hướng dẫn thống nhất, dễ hiểu.
Hỗ trợ mặt bằng phải đến đúng doanh nghiệp
Bên cạnh chính sách thuế, nhiều ý kiến quan tâm đến chính sách tiếp cận mặt bằng sản xuất tại Điều 10. Dự thảo cho phép căn cứ điều kiện thực tế, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành cho DNNVV, hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng; đồng thời có cơ chế hỗ trợ tiền thuê lại đất và ưu tiên DNNVV tiếp cận nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương.
Dự thảo cũng yêu cầu địa phương công khai diện tích mặt bằng còn trống và danh mục tài sản để DNNVV tiếp cận.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị làm rõ cơ chế nguồn lực và trách nhiệm thực hiện. Khi quy định địa phương sử dụng ngân sách để đầu tư hạ tầng và hỗ trợ tiền thuê lại đất, cần xác định đây là quyền chủ động của địa phương hay trách nhiệm phải thực hiện khi đủ điều kiện. Đồng thời, cần có tiêu chí, điều kiện và nguyên tắc phân bổ nguồn lực để tránh chênh lệch trong thực hiện giữa các địa phương.
Đối với hỗ trợ tiền thuê lại đất, đại biểu đề nghị thiết kế chặt chẽ để lợi ích thực sự đến với DNNVV, không làm tăng lợi ích chủ yếu cho chủ đầu tư hạ tầng. Dự thảo đang đưa ra hai hình thức là Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư hoặc cấp voucher cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu Nguyễn Văn Huy, cần ưu tiên cơ chế minh bạch, có thể kiểm tra, kiểm toán và xác định được doanh nghiệp cuối cùng thực sự nhận bao nhiêu tiền hỗ trợ; đồng thời công khai giá thuê trước và sau hỗ trợ, đối tượng, thời gian hỗ trợ và kết quả sử dụng mặt bằng.
Liên quan khoản 6 Điều 10, dự thảo quy định DNNVV được giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu và khoản hỗ trợ được Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở ươm tạo.
Đại biểu Lê Thanh Hoàn - Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cho rằng cơ chế Nhà nước “hoàn trả” bằng tiền ngân sách cho doanh nghiệp tư nhân để bù đắp việc giảm giá cho DNNVV thuê lại đất chưa phù hợp với cơ chế hiện hành về quản lý thu, nộp tiền thuê đất, đồng thời có thể làm phát sinh quy trình chi ngân sách phức tạp.
Vì vậy, đại biểu đề nghị thay bằng cơ chế khấu trừ nghĩa vụ. Theo đó, chủ đầu tư hạ tầng giảm giá thuê cho DNNVV theo chính sách của Nhà nước sẽ được khấu trừ trực tiếp phần tương ứng vào tiền thuê đất hằng năm phải nộp cho Nhà nước.
Đối với phương án cấp voucher trực tiếp cho doanh nghiệp, đại biểu Lê Thanh Hoàn đề nghị làm rõ hình thức thực hiện, trong đó cần xác định voucher là giấy tờ có giá được phát hành chung hay phát hành riêng cho từng doanh nghiệp.
Đại biểu Lã Thanh Tân - Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cũng đề nghị điều chỉnh cơ chế theo hướng Nhà nước hỗ trợ trực tiếp đúng đối tượng là doanh nghiệp, thay vì chủ yếu hỗ trợ thông qua chủ đầu tư hạ tầng.
Về quy định bố trí bình quân 2 ha hoặc 5% diện tích khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho DNNVV, đại biểu đề nghị đánh giá thêm nhu cầu thực tế của từng địa phương, tránh tình trạng có chỉ tiêu đất nhưng không có doanh nghiệp có nhu cầu, trong khi nguồn lực đất đai hạn chế.
Các ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy sự đồng thuận về yêu cầu xây dựng khung pháp lý mới thúc đẩy DNNVV phát triển, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu chính sách phải được thiết kế sát thực tế hơn. Từ ưu đãi thuế đến hỗ trợ mặt bằng, các đại biểu đề nghị xác định đúng đối tượng, đúng thời điểm, hạn chế khả năng lợi dụng và bảo đảm nguồn lực hỗ trợ thực sự đến doanh nghiệp.



