Bức tranh lãi suất huy động trong nửa đầu năm 2026 cho thấy những áp lực đang gia tăng bên trong bảng cân đối vốn của các ngân hàng thương mại. Khi tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ huy động, các nhà băng buộc phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Mời đọc Gỡ nút thắt lãi suất: Khi nỗ lực chạm rào cản thị trường Kỳ I - Ổn định mặt bằng lãi suất: Nỗ lực chưa đủ để thắng áp lực thị trường
Ngân hàng “gồng mình” vay ngắn hạn, cho vay dài hạn
Số liệu thống kê được trong báo cáo cập nhật vĩ mô tháng 7/2026 được CTCK ACB (ACBS) công bố cho thấy, tính đến ngày 27/7/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 8,21% so với cuối năm 2025, vượt xa tốc độ tăng trưởng huy động vốn (khoảng 5,8%), làm nới rộng khoảng cách chênh lệch vốn.
Chia sẻ tại buổi họp báo mới đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đại diện Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho biết, tăng trưởng tín dụng cao đã nâng tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam lên mức 146%, mức cao nhất trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp.
Đáng chú ý, phần lớn dư nợ là các khoản vay trung và dài hạn, trong khi có tới khoảng 80% nguồn vốn huy động lại là tiền gửi ngắn hạn dưới 12 tháng. Những con số này phản ánh rõ sự lệch pha về kỳ hạn và cho thấy nền kinh tế vẫn đang phụ thuộc quá lớn vào kênh tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế này cũng tiềm ẩn những rủi ro đáng kể đối với an ninh tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô.
Ông Nguyễn Minh Tuấn, Tổng Giám đốc AFA Capital phân tích, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động đã nới rộng liên tục kể từ tháng 7/2023, khác hẳn giai đoạn trước dịch COVID-19 khi hai chỉ số này còn bám sát nhau; điều này buộc các ngân hàng phải tìm thêm nguồn vốn qua phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi hoặc tăng lãi suất huy động.
Hệ quả trực tiếp của độ lệch pha này là tỷ lệ dư nợ tín dụng trên huy động (LDR) bị đẩy lên vùng nguy hiểm. Dữ liệu của FiinGroup tổng hợp từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, LDR toàn hệ thống đã tăng vọt lên mức 113,9% vào cuối quý I/2026, đồng nghĩa lượng vốn cho vay ra đã cao hơn cả lượng vốn huy động được. Cùng lúc đó, tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) toàn ngành giảm xuống còn 20,8%, cho thấy các ngân hàng ngày càng phải dựa vào nguồn tiền gửi có kỳ hạn - vốn có chi phí cao hơn - để bù đắp thanh khoản.
Bổ sung thêm góc nhìn, CTCK Rồng Việt (VDSC) nhận định, bên cạnh tỷ lệ LDR trên thị trường 1 (huy động từ dân cư và tổ chức) luôn duy trì quanh ngưỡng 100%, các ngân hàng ngày càng phải phụ thuộc vào thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng) để cân đối dòng tiền.
Số liệu từ CTCK TP.HCM (HSC) cũng minh chứng rõ nét cho thực trạng này khi doanh số giao dịch qua đêm trên thị trường liên ngân hàng duy trì ở mức cao kỷ lục, kéo theo lãi suất bình quân kỳ hạn này chạm đỉnh 10 năm. Cùng thời điểm, tỷ lệ tín dụng được tài trợ bởi tiền gửi giảm xuống còn 86% trong quý I/2026, khẳng định thêm việc dòng vốn cho vay ra đang vượt xa khả năng huy động thực tế.
Lý giải về cơ chế dẫn đến áp lực thanh khoản hiện tại, VDSC cho biết, khi tín dụng tăng tốc từ cuối năm 2025 và tiếp tục bứt phá trong năm 2026 nhưng huy động không theo kịp, lượng tiền gửi dư thừa vốn dùng để điều tiết thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng đã bị rút ra để phục vụ cho vay nền kinh tế, gây lên áp lực lớn cho thanh khoản của toàn hệ thống.
“Mở van” tín dụng trong bối cảnh thanh khoản đã cạn dần dư địa
Áp lực trên diễn ra đúng vào lúc nhiều chính sách “mở van” tín dụng được triển khai nhằm hỗ trợ nền kinh tế, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng cao. Từ ngày 1/7/2026, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Đồng thời, cơ chế tín dụng đặc biệt được mở ra cho 18 dự án hạ tầng trọng điểm với tổng nhu cầu vốn khoảng 752.000 tỷ đồng, phần lớn dự kiến giải ngân ngay trong giai đoạn 2026-2028. Dư nợ của các dự án này được loại trừ khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng thông thường. Dư nợ nhà ở xã hội cũng được loại khỏi room tín dụng bất động sản.
Những chính sách này giúp mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng ở đầu ra nhưng cũng đặt áp lực lớn hơn đối với thanh khoản đầu vào.
Trao đổi tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào tháng 7 vừa qua, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank cho biết, để đạt tăng trưởng GDP 10%, tỷ lệ đầu tư cần đạt 40% GDP. Trong khi đó, theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước chỉ đạt 36,5%. Nếu loại trừ phần kinh tế phi chính thức, phần tiết kiệm trong nước còn thiếu nhiều hơn.
Theo Chủ tịch Vietcombank, đây là khoảng cách đặt ra sức ép lớn đối với khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng, nhất là khi nhu cầu tín dụng cho nhiều dự án lớn dự kiến tăng mạnh trong thời gian tới. Tích lũy trong nước sẽ không đủ, trong khi các ngân hàng cũng không còn dư dả nguồn vốn để đáp ứng toàn bộ nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.
Cũng tại hội nghị, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn chia sẻ, điều hành chính sách lãi suất tương đối “vất vả” do nhu cầu vốn rất cao, trong khi huy động vốn của nền kinh tế còn eo hẹp. Nền kinh tế tập trung vào tăng trưởng, tập trung vào tín dụng, vì vậy khi thiếu hụt vốn thì lãi suất có xu hướng tăng. Lãi suất huy động đầu vào cao sẽ kéo theo lãi suất cho vay đầu ra cao, như vậy trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Có thể thấy rằng, khi cầu vốn vượt cung, giá vốn tất yếu tăng, đồng thời, việc ngân hàng vừa phải bổ sung vốn mới, vừa phải hoàn trả các khoản vay cũ càng khiến chi phí huy động bị đẩy lên cao hơn. Áp lực chi phí vốn cũng đã thể hiện rõ trong biên lãi ròng (NIM) của ngân hàng trong những tháng đầu năm. Theo số liệu từ FiinGroup, NIM toàn ngành đã giảm xuống 2,87% trong quý I/2026, mức thấp nhất nhiều năm sau nhiều quý đi ngang, chủ yếu do chi phí vốn tăng nhanh hơn tốc độ cải thiện của lợi suất tài sản sinh lãi. Tuy vậy, NIM toàn ngành trong quý II/2026 đã phục hồi lên 3,06%, từ mức đáy trong quý đầu năm khi lợi suất tài sản sinh lãi tăng mạnh, theo cập nhật của VDSC.
Vốn cho tăng trưởng kinh tế: Không thể chỉ dựa vào ngân hàng
Báo cáo phân tích của Dragon Capital cho thấy, nếu tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao hơn tăng trưởng GDP danh nghĩa khoảng 3- 4%, trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ vượt qua Thái Lan và Singapore, trở thành quốc gia có dư nợ tín dụng/GDP cao nhất khu vực ASEAN. Các tổ chức quốc tế như IMF hay WB cũng nhiều lần cảnh báo rủi ro khi đòn bẩy tín dụng tăng nhanh hơn GDP.
Tại hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” ngày 23/7, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Do đó, cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV nhận định, kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng.
Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) bổ sung thêm, quy mô tín dụng hiện tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP - một cơ cấu chưa cân bằng so với thông lệ quốc tế, nơi tín dụng ngân hàng thường chỉ chiếm khoảng 25-30% cơ cấu vốn của nền kinh tế.
Tuy nhiên, phát triển thị trường vốn để san sẻ áp lực với hệ thống ngân hàng không thể là câu chuyện ngày một ngày hai. Các chuyên gia VDSC cho rằng, trong 6 tháng cuối năm 2026, lãi suất sẽ khó hạ nhiệt đáng kể khi hệ thống vẫn thiếu thanh khoản. Các biện pháp như nới tỷ lệ an toàn hay cho phép vay vốn nước ngoài (offshore) chỉ giải quyết được một phần vấn đề cấu trúc, còn mức chi phí vốn tăng cao trong nửa đầu năm cần thời gian để hệ thống điều chỉnh và thu hẹp dần chênh lệch kỳ hạn.
“Không thể xây một nền kinh tế 40 năm bằng nguồn vốn kỳ hạn 12 tháng. Cần chuyển gánh nặng vốn dài hạn sang đúng kênh của nó - thị trường vốn”, chuyên gia Dragon Capital nhấn mạnh.



