A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Hộ chăn nuôi liên kết cùng doanh nghiệp chia sẻ rủi ro

Từ một khởi đầu với nguồn vốn hạn chế, ông Nguyễn Mạnh Hải từng bước mở rộng lên 3 trang trại, duy trì quy mô 25.500 con gà nhờ cách làm thận trọng và liên kết dài hạn.

Bỏ vốn lớn, không thể làm theo kiểu 'được ăn cả'

Những ngày cuối tháng 8/2026, lứa gà gần 3 tháng tuổi tại trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Mạnh Hải (sinh năm 1969), thôn Yên Thịnh, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội, đang được chăm sóc theo đúng lịch trình. Lối vào khu chuồng vừa được rải vôi bột khử trùng. Phía trong, hệ thống máng ăn, nước uống tự động vận hành đều đặn, đàn gà phát triển khá đồng đều. Bao quanh khu chuồng là vườn cây. Không gian trang trại được bố trí tách biệt với khu dân cư, các yêu cầu về vệ sinh, kiểm soát người ra vào và phòng dịch được thực hiện thường xuyên.

Ông Nguyễn Mạnh Hải (sinh năm 1969) tại trại gà ở thôn Yên Thịnh, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội.

Ông Nguyễn Mạnh Hải (sinh năm 1969) tại trại gà ở thôn Yên Thịnh, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội.

Nhìn quy mô hiện tại, ít ai nghĩ cách đây 20 năm, ông Hải đến với nghề chăn nuôi từ một gia đình không có nhiều vốn. Trước đó, ông từng làm nhiều nghề, từ buôn bán đến nghề mộc. Cơ duyên đến với chăn nuôi bắt đầu khi một số người trong khu vực xây dựng trang trại gà và có hiệu quả. “Gia đình có quỹ đất khá rộng, nhưng nếu chỉ trồng cây ăn quả thì hiệu quả kinh tế không cao. Khi tìm hiểu về gà, tôi thấy thời gian nuôi ngắn, phù hợp với điều kiện gia đình nên quyết định làm”, ông Hải kể.

Năm 2006, trang trại chăn nuôi gia cầm đầu tiên được xây dựng. Nguồn vốn khi đó chủ yếu là tiền tích lũy của gia đình, phần thiếu phải vay mượn. Thời điểm đó, tổng vốn đầu tư cho trang trại tương đương khoảng 38 cây vàng. "Giá vàng khi ấy khoảng 1 triệu đồng một chỉ. Với một gia đình lúc đó, đây là khoản tiền rất lớn. Nhưng khi đã quyết định làm thì tôi xác định phải làm bài bản", ông Hải chia sẻ.

Ngay từ trang trại đầu tiên, ông Hải đã lựa chọn chuồng kín thay vì mô hình chuồng hở. Hệ thống làm mát, cấp nước tự động và các thiết bị phục vụ chăn nuôi được tính toán để giảm công việc thủ công và kiểm soát tốt hơn điều kiện trong chuồng. Theo ông, đầu tư trang trại là khoản vốn lớn và thời gian thu hồi không thể tính trong một vài vụ nuôi. Với một trang trại khoảng 1.000 m² có thể cần khoảng 1 tỷ đồng, chưa tính giá trị đất. Chăn nuôi bỏ vốn lớn nhưng không phải cứ đầu tư nhiều là sẽ có lãi. Nếu đầu tư 10 tỷ đồng thì cũng phải tính khả năng mất 3-5 năm mới thu hồi được vốn. Chỉ cần vài lứa không thuận lợi, vốn đã có thể bị đọng lại.

Trong quá trình chăn nuôi, tự động hóa được xem là một cách giảm chi phí vận hành. Ông Hải chia sẻ, khoảng 10 năm nay, hệ thống cho ăn đã được tự động hóa. Nếu trước đây mỗi chuồng cần khoảng 2 nhân công thì hiện nay có thể giảm xuống, một người phụ trách một chuồng. Hệ thống cấp thức ăn qua băng chuyền giúp hạn chế lượng thức ăn rơi vãi. Đây là khoản chi không nhỏ đối với trang trại có quy mô hàng vạn con. Ông Hải tính toán, nếu mỗi ngày thất thoát khoảng 30kg thức ăn thì một chu kỳ 100 ngày có thể mất khoảng 3 tấn. Với giá thức ăn khoảng 11.000 đồng/kg, khoản hao hụt có thể lên tới hơn 30 triệu đồng. Vì vậy, trước khi đầu tư, ông không chỉ nhìn vào giá thiết bị mà tính cả phần nhân công có thể tiết giảm và lượng thức ăn có thể hạn chế hao hụt. “Tôi phải tính xem đầu tư có hiệu quả không. Nếu bỏ vài trăm triệu đồng mà hiệu quả không đáng kể thì tôi cũng không làm”, ông chia sẻ.

Tự động hóa tuy giảm nhiều công việc thủ công nhưng theo ông, việc này không thay thế người trực tiếp chăm sóc đàn gà. Công nhân vẫn phải vào chuồng kiểm tra đàn, theo dõi những con yếu, vệ sinh máng ăn, máng uống và phát hiện sớm các bất thường. Tại mỗi chuồng, hệ thống camera cũng được lắp đặt để hỗ trợ theo dõi. Việc kiểm soát người ra vào được thực hiện chặt chẽ, công nhân khi ra ngoài phải vệ sinh, thay quần áo, giày dép trước khi trở lại khu vực chăn nuôi.

Liên kết để chia sẻ rủi ro

Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển trang trại của ông Hải là lựa chọn mô hình chăn nuôi gia công. Ông bắt đầu hợp tác với Japfa Comfeed Việt Nam từ năm 2006 và duy trì mối liên kết này đến nay. Trong gần 20 năm, ông trải qua khoảng 16 năm nuôi gà trắng, sau đó chuyển sang gà màu khoảng 4 năm. Tổng cộng, ông ước tính đã nuôi gần 300 đàn gà. Việc chuyển từ gà trắng sang gà màu không đơn thuần là thay đổi vật nuôi mà xuất phát từ bài toán rủi ro. Theo ông Hải, gà trắng có thời gian nuôi ngắn nhưng đòi hỏi điều kiện chuồng trại và hệ thống điện, làm mát được kiểm soát rất chặt. Chỉ một sự cố điện trong thời gian ngắn cũng có thể gây thiệt hại lớn.

Ông Nguyễn Mạnh Hải (sinh năm 1969), thôn Đan Thê, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội

Ông Nguyễn Mạnh Hải (sinh năm 1969), thôn Đan Thê, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội

Trong khi đó, gà lông màu có chu kỳ nuôi dài hơn nhưng áp lực vận hành phù hợp hơn với điều kiện của gia đình. Hiệu quả giữa hai loại hình, nếu chăn nuôi tốt, theo ông không chênh lệch quá lớn. Sau nhiều năm hợp tác, ông Hải cũng không có ý định chuyển sang doanh nghiệp khác dù nhận được nhiều lời mời. “Bây giờ tôi không còn ở tuổi để thử nghiệm nữa. Đã làm thì xác định làm thật, làm lâu dài. Hai bên đã hiểu nhau, quen cách làm và cùng đi qua nhiều giai đoạn khó khăn”, ông nói.

Với người chăn nuôi, một trong những rủi ro lớn nhất là đầu ra. Gà đến tuổi xuất bán nhưng nếu thị trường tiêu thụ chậm, người nuôi phải tiếp tục duy trì đàn, đồng nghĩa phát sinh thêm chi phí thức ăn, điện và nhân công. Ông Hải cho biết từng có những lứa gà theo kế hoạch chỉ nuôi khoảng 120 ngày nhưng thực tế phải kéo dài đến 136 ngày mới xuất bán. Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ thêm thức ăn chăn nuôi cho trang trại. Có lứa, khoản hỗ trợ theo ông lên tới hơn 100 triệu đồng. Đây là điểm ông Hải đánh giá cao ở mô hình liên kết. Người nuôi không phải tự mình gánh toàn bộ biến động của thị trường. “Làm với doanh nghiệp lớn có cái lợi là khi thị trường khó khăn thì doanh nghiệp cũng chia sẻ một phần rủi ro. Người nuôi vẫn được thanh toán theo mức khoán đã thỏa thuận”, ông nói.

Tuy nhiên, liên kết không đồng nghĩa với việc người nuôi được đảm bảo lợi nhuận trong mọi trường hợp. Thu nhập vẫn phụ thuộc vào hiệu quả từng đàn, tỷ lệ hao hụt và mức tiêu tốn thức ăn. Với gà lông màu, mức tiền công chăn nuôi gia công được tính theo sản lượng và hiệu quả. Ông Hải cho biết, những trang trại làm tốt có thể đạt khoảng 8.000-9.000 đồng/kg. Ngược lại, nếu hao hụt vượt định mức hoặc sử dụng thức ăn chăn nuôi vượt mức khoán, thu nhập sẽ giảm, thậm chí phát sinh khoản phải bù. Theo ông, cách tính này buộc người nuôi phải kiểm soát chặt đàn gà thay vì chỉ quan tâm đến số lượng xuất bán. “Doanh thu không phải là tất cả. Phải tính cả chi phí thì mới biết cuối cùng mình còn lại bao nhiêu”, ông Hải nói.

Hiện mức tiêu tốn thức ăn của trang trại được kiểm soát quanh định mức doanh nghiệp giao. Với những lứa nuôi thuận lợi, tỷ lệ hao hụt thường dưới 5%, có đàn chỉ khoảng 3-4%. Đằng sau những con số ấy là cả một quy trình từ khâu chuẩn bị chuồng, nhập gà một ngày tuổi, tiêm phòng, kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, nước uống đến khi xuất bán.

Không chạy theo quy mô, giữ hiệu quả để đi đường dài

Sau gần 20 năm, nhiều thao tác trong chăn nuôi đã trở thành kinh nghiệm của người chủ trang trại. Trước khi nhập gà con, chuồng phải được làm ấm trước nhiều giờ. Nhiệt độ được theo dõi liên tục trong những ngày đầu. Đàn gà không chỉ được quan sát qua nhiệt kế mà còn phải nhìn bằng mắt thường để phát hiện dấu hiệu bất thường.

Mỗi năm, trang trại nuôi khoảng 2,5 lứa gà.

Mỗi năm, trang trại nuôi khoảng 2,5 lứa gà.

Theo ông Hải, nếu gà tụ lại thành từng đống có thể là dấu hiệu bị lạnh; nếu há mỏ, nằm duỗi người thì cần kiểm tra khả năng chuồng đang quá nóng. Đối với gà màu, ánh sáng cũng được điều chỉnh theo từng giai đoạn. Khi gà còn nhỏ cần đủ ánh sáng, nhưng khi lớn hơn phải giảm cường độ để hạn chế stress và hiện tượng mổ, cắn nhau. Cùng với kỹ thuật chăm sóc, công tác phòng bệnh được đặt lên hàng đầu. Nguồn nước được lấy mẫu kiểm tra định kỳ, đàn gà được theo dõi và xét nghiệm theo từng giai đoạn. Vaccine được sử dụng theo lịch kỹ thuật.

Gần 20 năm qua, trang trại chưa từng phải tiêu hủy toàn bộ đàn do dịch bệnh. Kết quả này, theo ông, không đến từ một yếu tố riêng lẻ mà là sự kết hợp giữa quy trình phòng bệnh, điều kiện chuồng kín và việc xử lý sớm khi đàn gà có dấu hiệu bất thường. Môi trường chuồng nuôi cũng được kiểm soát bằng đệm lót sinh học. Trấu được sử dụng làm chất độn, kết hợp men vi sinh để giảm mùi và khí phát sinh. Chuồng được vệ sinh, xử lý theo từng giai đoạn và dọn sau khi kết thúc mỗi lứa.

Đặc biệt, xác định việc tuân thủ quy định về đất đai, xây dựng và môi trường phải được thực hiện ngay từ đầu. Từ năm 2008, gia đình hoàn thiện các thủ tục cần thiết để hoạt động trang trại đúng quy định. “Đã xây dựng trang trại thì phải làm đúng. Nếu không làm đầy đủ thủ tục, sau này có vấn đề phải di dời hay đền bù thì mình không còn chủ động”, ông nói.

Từ một trang trại đầu tư năm 2006, đến nay, gia đình ông có 3 trang trại, tổng quy mô khoảng 25.500 con/lứa. Diện tích đất khoảng 26.800 m², trong đó khu vực chuồng trại và các công trình phục vụ chăn nuôi chiếm phần lớn diện tích. Trong đó khu vực chuồng trại và các công trình phục vụ chăn nuôi chiếm phần lớn diện tích. Điều đáng chú ý là quá trình mở rộng không diễn ra bằng những khoản đầu tư ồ ạt. Ông Hải chọn cách “lấy ngắn nuôi dài”, làm đến đâu chắc đến đó, tích lũy được vốn mới tiếp tục mở rộng.

Nhưng điều ông nhấn mạnh không phải là quy mô đàn gà mà là khả năng duy trì hiệu quả qua từng năm. Một năm, gà màu có thể nuôi khoảng 2,5 lứa. Trọng lượng xuất bán thường khoảng 2,75-2,8 kg/con. Sản lượng bình quân của cả trang trại khoảng 60-70 tấn/năm. Những con số này cho thấy chăn nuôi có thể đem lại nguồn thu đáng kể, nhưng đi kèm là lượng vốn lớn, thời gian thu hồi dài và hàng loạt rủi ro từ thời tiết, dịch bệnh, sự cố kỹ thuật đến thị trường. “Làm tốt thì có thu nhập, nhưng không thể nghĩ năm nào cũng được như nhau. Thiên tai, dịch bệnh, giá cả đều có thể thay đổi”, ông Hải chia sẻ và cho hay, thay vì tiếp tục mở rộng quy mô, ông ưu tiên cải tiến những gì đang có. Hệ thống cho ăn, nước uống tự động, camera, kiểm soát môi trường và quy trình phòng bệnh được hoàn thiện từng bước. Những cải tiến này không chỉ nhằm tăng năng suất mà còn giảm chi phí và hạn chế rủi ro.

Sau gần 20 năm, điều giữ ông Hải ở lại với nghề không còn là ý định khởi nghiệp ban đầu mà là kinh nghiệm, hiệu quả và mối liên kết đã được xây dựng qua thời gian. Theo ông, nghề chăn nuôi đòi hỏi sự gắn bó và chịu được áp lực cao. Với hộ chăn nuôi, lớn lên không nhất thiết đồng nghĩa với mở rộng thật nhanh. Một hướng đi khác là bắt đầu từ quy mô phù hợp, đầu tư từng bước, kiểm soát chi phí và liên kết với doanh nghiệp để giảm bớt những rủi ro mà một hộ riêng lẻ khó tự xử lý. Trong lĩnh vực chăn nuôi nhiều biến động, sự ổn định của đầu vào, kỹ thuật và đầu ra có thể tạo thêm dư địa để người nuôi tập trung vào thứ họ kiểm soát được đó là chất lượng đàn gà và hiệu quả sản xuất.

Câu chuyện của ông Nguyễn Mạnh Hải cho thấy, với các hộ chăn nuôi, tham gia vào chuỗi liên kết của doanh nghiệp lớn có thể giúp giảm bớt rủi ro, tiếp cận kỹ thuật, công nghệ và thị trường mà không phải tự mình đầu tư toàn bộ các khâu của chuỗi giá trị. Tuy nhiên, liên kết không đồng nghĩa với phụ thuộc. Để đứng vững trong chuỗi, người chăn nuôi vẫn phải chủ động đầu tư chuồng trại, kiểm soát chi phí, tuân thủ quy trình và nâng năng suất. Khi mỗi mắt xích đều nâng được hiệu quả sản xuất, liên kết mới trở thành điểm tựa để các hộ chăn nuôi phát triển ổn định và từng bước nâng quy mô.

Nguyễn Hạnh
Thích 1111

Các tin khác

Tin nổi bật

Video