A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết nối tín dụng xanh với thị trường các-bon: Góc nhìn và giải pháp từ Agribank

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn không chỉ chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu, mà còn sở hữu dư địa giảm phát thải khổng lồ và phát triển kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, khoảng cách từ một tiềm năng môi trường đến dòng tiền thực tế vẫn đòi hỏi nhiều điểm tựa tài chính. Làm thế nào để giải quyết các điểm nghẽn về dữ liệu, đo lường (MRV) và thiết kế dòng vốn qua từng giai đoạn dự án? Góc nhìn và giải pháp từ Agribank sẽ mang đến những bài học thực tiễn trong việc đồng hành cùng khách hàng chuyển đổi xanh, hiện thực hóa các mục tiêu Net Zero quốc gia.

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn không chỉ chịu tác động nặng nề từ biến đổi khí hậu, mà còn sở hữu dư địa giảm phát thải khổng lồ và phát triển kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, khoảng cách từ một tiềm năng môi trường đến dòng tiền thực tế vẫn đòi hỏi nhiều điểm tựa tài chính. Làm thế nào để giải quyết các điểm nghẽn về dữ liệu, đo lường (MRV) và thiết kế dòng vốn qua từng giai đoạn dự án? Góc nhìn và giải pháp từ Agribank sẽ mang đến những bài học thực tiễn trong việc đồng hành cùng khách hàng chuyển đổi xanh, hiện thực hóa các mục tiêu Net Zero quốc gia.

Bài viết phân tích mối liên hệ giữa tín dụng xanh và thị trường các-bon từ góc nhìn ngân hàng thương mại, trên cơ sở cập nhật khung pháp lý và dữ liệu thị trường Việt Nam, đối chiếu thực tiễn tín dụng xanh của Agribank và mô hình hóa chuỗi giá trị các-bon. Kết quả cho thấy, nhu cầu vốn phát sinh từ giai đoạn chuẩn bị và triển khai dự án, trong khi tín chỉ và doanh thu các-bon hình thành muộn hơn, phụ thuộc vào phương pháp luận, hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV), kết quả giảm phát thải và điều kiện thanh toán. Từ đó, bài viết đề xuất 5 vai trò phù hợp của Agribank: Tài trợ giảm phát thải; kết nối hệ sinh thái; thanh toán và quản lý dòng tiền; huy động tài chính khí hậu; và đồng hành chuyển đổi xanh. Trọng tâm không phải là đầu cơ tín chỉ, mà là tài trợ cho hoạt động kinh tế tạo ra kết quả giảm phát thải có chất lượng và từng bước đưa giá trị các-bon đã được kiểm chứng vào quyết định tài chính.

Từ khóa: thị trường các-bon; tín dụng xanh; tài chính các-bon; MRV; Agribank.

TÓM TẮT

Trong bối cảnh quốc tế, định giá các-bon đã trở thành một công cụ kinh tế ngày càng quan trọng. Báo cáo State and Trends of Carbon Pricing 2026 của World Bank ghi nhận 87 chính sách định giá các-bon trực tiếp trên thế giới, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu; các công cụ này tạo hơn 107 tỷ USD nguồn thu ngân sách trong năm 2025 và mức giá các-bon trực tiếp bình quân gần 21 USD/tCO₂e [9]. Những con số đó không hàm ý một mức giá chung cho mọi tín chỉ, nhưng cho thấy chi phí phát thải đang ngày càng được nội hóa vào quyết định đầu tư và kinh doanh.

Đối với Agribank, vấn đề này gắn trực tiếp với khách hàng và địa bàn hoạt động. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vừa chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, vừa có dư địa giảm phát thải trong lúa gạo, chăn nuôi, lâm nghiệp, năng lượng sinh khối, xử lý chất thải và kinh tế tuần hoàn. Vì vậy, câu hỏi trọng tâm không phải là “ngân hàng có mua bán tín chỉ hay không”, mà là “ngân hàng có thể tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải như thế nào và khi nào giá trị các-bon đủ chắc chắn để đi vào quyết định tín dụng”.

anh-4-agribank-la-ngan-hang-chu-luc-trong-de-an-phat-trien-1-trieu-hecta-chuyen-canh-lua-chat-luong-cao.jpg

Đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng. Năm 2026, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng xanh 3.000 tỷ đồng cho khách hàng cá nhân và chương trình tài trợ nông nghiệp sạch, công nghệ cao 50.000 tỷ đồng.

1. THỊ TRƯỜNG CÁC-BON VÀ TÍN DỤNG XANH

1.1. Hai loại hàng hóa và hai tầng thị trường cần phân biệt

Trong hoạt động sản xuất, doanh nghiệp thường tính đến nguyên liệu, lao động, năng lượng và chi phí vốn, trong khi chi phí xã hội của phát thải chưa phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ trong giá thành. Định giá các-bon bổ sung một tín hiệu kinh tế: Phát thải có thể làm phát sinh chi phí tuân thủ; giảm phát thải có thể làm giảm nghĩa vụ chi trả hoặc tạo ra giá trị được ghi nhận.

Cần phân biệt rõ hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon. Hạn ngạch là lượng phát thải được phép trong một cơ chế tuân thủ và kỳ tuân thủ cụ thể. Tín chỉ các-bon được hình thành từ kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính đáp ứng phương pháp, tiêu chuẩn và cơ chế ghi nhận tương ứng. Một tín chỉ thường đại diện cho một tấn CO₂ tương đương. Quyền, nghĩa vụ và mức độ chắc chắn tài chính của hai loại hàng hóa này không giống nhau.

Tương tự, thị trường tuân thủ được hình thành từ nghĩa vụ pháp lý; thị trường tự nguyện xuất phát từ nhu cầu tự nguyện mua và sử dụng tín chỉ cho các mục tiêu nhất định. Một tín chỉ có chất lượng tốt không mặc nhiên được chấp nhận ở mọi thị trường; điều kiện sử dụng phụ thuộc cơ chế, tiêu chuẩn, mục đích của bên mua và quy định có liên quan. Với giao dịch quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, vấn đề hạch toán và tránh tính trùng kết quả giảm nhẹ đặc biệt quan trọng [14].

1.2. Từ tiềm năng giảm phát thải đến doanh thu là một chuỗi có điều kiện

Một diện tích rừng, một cánh đồng hay một hệ thống xử lý chất thải có tiềm năng môi trường chưa đủ để xác định ngay số tín chỉ có thể bán. Dự án phải lựa chọn phương pháp luận phù hợp, xác định đường cơ sở, chứng minh tính bổ sung, tổ chức thực hiện, duy trì dữ liệu, đo lường - báo cáo - thẩm tra (MRV) và hoàn tất thủ tục cấp phát. Các nguyên tắc chất lượng của ICVCM nhấn mạnh tính bổ sung, lượng hóa thận trọng, tính lâu bền, thẩm tra độc lập và không tính trùng [15].

Với ngân hàng, điểm quan trọng là phân biệt các trạng thái: “có tiềm năng giảm phát thải”, “dự án đã được đăng ký”, “kết quả đã được thẩm tra”, “tín chỉ đã được phát hành”, “đã ký hợp đồng mua bán”, và “tiền đã được thanh toán”. Mỗi trạng thái có mức độ chắc chắn khác nhau và không thể quy đổi cơ học thành cùng một nguồn trả nợ.

296-202610130850101.png

Hình 1. Chuỗi giá trị các-bon và nhu cầu tài chính phát sinh theo vòng đời dự án. Nguồn: Ban Định chế tài chính Agribank, Báo cáo số 1123/2026/BC-ĐCTC [17].

Mô hình trên cho thấy khoảng lệch thời gian cốt lõi của tài chính các-bon: Nhu cầu vốn phát sinh từ giai đoạn chuẩn bị và đầu tư; tín chỉ chỉ xuất hiện sau khi có kết quả giảm phát thải được đo lường và xác minh; doanh thu còn phụ thuộc bước giao dịch và thanh toán. Chính khoảng lệch này tạo không gian cho tín dụng, tài trợ cầu nối, quản lý dòng tiền, bảo lãnh và tài chính hỗn hợp.

2. VIỆT NAM: TỪ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ ĐẾN VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG

2.1. Khung pháp lý đã chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang vận hành thí điểm

Nền tảng pháp lý của thị trường các-bon Việt Nam được hình thành từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được cụ thể hóa qua nhiều văn bản. Đáng chú ý, Quyết định 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam; Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch các-bon trong nước; Nghị định 112/2026/NĐ-CP quy định trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon; Nghị định 83/2026/NĐ-CP tiếp tục sửa đổi, bổ sung khung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP [2]-[5].

Từ năm 2022 đến nay, danh sách doanh nghiệp buộc phải kiểm kê khí nhà kính đã tăng từ 1.912 lên 2.441, tăng gần 28%. Năm 2022, Quyết định 01/2022/QĐ-TTg có 1.912 cơ sở, năm 2024 Quyết định 13/2024/QĐ-TTg, là 2.166 cơ sở tăng 254 cơ sở, chiếm khoảng 30% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia; năm 2026, Quyết định 42/2026/QĐ-TTg là 2.441 cơ sở tăng thêm 275 cơ sở.

Về tín dụng xanh, Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và Danh mục phân loại xanh tạo cơ sở nhận diện dự án xanh và Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 17/9/2026 Về Hướng dẫn xác định dự án xanh [6], dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn, góp phần tạo thêm dự án xanh mới, khơi thông nguồn vốn, mở rộng thêm tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn và bộ tiêu chí ESG, nhưng cần nhấn mạnh rằng một dự án thuộc danh mục phân loại xanh không đồng nghĩa dự án đó có tín chỉ các-bon; ngược lại, dự án có tín chỉ cũng không mặc nhiên đáp ứng điều kiện cấp tín dụng. Quyết định 42/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ 25/9/2026, cập nhật danh mục lĩnh vực, cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, tiếp tục mở rộng nền dữ liệu phục vụ quản lý phát thải [7].

2.2. Hạ tầng giao dịch đã hình thành, nhưng thanh khoản còn ở giai đoạn đầu

Theo dữ liệu HNX, mã hạn ngạch VN2025 cho giai đoạn tuân thủ 2025-2026 có tổng lượng 511.473.846 tCO₂e, phân bổ cho 110 cơ sở; ngày giao dịch đầu tiên là 29/6/2026 và ngày giao dịch cuối cùng là 24/12/2027 [8]. Đây là bước chuyển quan trọng từ khung chính sách sang hạ tầng giao dịch thực tế.

Tuy nhiên, dữ liệu công khai tại HNX cho thấy trong các ngày giao dịch đây, khối lượng và giá trị giao dịch đều bằng 0 [8]. Điều này không có nghĩa thị trường không có tiềm năng, nhưng cho thấy ngân hàng chưa nên mặc định rằng đã tồn tại một mức giá tham chiếu ổn định hoặc thanh khoản sâu để sử dụng trực tiếp trong thẩm định phương án vay.

Việt Nam đồng thời đã có kinh nghiệm thương mại hóa kết quả giảm phát thải trên thị trường quốc tế. Tháng 3/2024, Việt Nam nhận 51,5 triệu USD từ World Bank cho 10,3 triệu tấn kết quả giảm phát thải được xác minh trong Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ [10]. Bài học quan trọng không nằm ở việc lấy 51,5 triệu USD chia cho 10,3 triệu tấn để hình thành “giá chuẩn”, mà ở chỗ kết quả môi trường chỉ trở thành dòng tiền khi có phương pháp, dữ liệu, thẩm tra, hợp đồng và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng.h

3. KHOẢNG TRỐNG TÀI CHÍNH TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ CÁC-BON

3.1. Nhu cầu vốn khác nhau theo từng giai đoạn

Ở giai đoạn chuẩn bị, doanh nghiệp phát sinh chi phí khảo sát, đánh giá tính khả thi, xây dựng hồ sơ, phương pháp luận, dữ liệu ban đầu và thuê tư vấn. Ở giai đoạn triển khai, nhu cầu lớn nhất thường là vốn trung và dài hạn cho thiết bị, cơ sở hạ tầng và công nghệ, cùng vốn lưu động để duy trì hoạt động sản xuất. Khi dự án vận hành, doanh nghiệp tiếp tục cần chi phí MRV, thẩm tra độc lập và tài trợ cầu nối trong thời gian chờ cấp phát hoặc thanh toán. Ở giai đoạn thương mại hóa, nhu cầu chuyển sang định giá, đàm phán hợp đồng, thanh toán, ngoại hối, bảo lãnh và quản lý dòng tiền.

Một cấu trúc tín dụng chung khó phù hợp với tất cả nhu cầu này. Thiết bị tạo ra tài sản hữu hình; chi phí phát triển hồ sơ và dữ liệu thì khó dùng làm tài sản bảo đảm. Vốn vụ mùa có chu kỳ ngắn; thời gian hình thành tín chỉ có thể kéo dài qua nhiều kỳ giám sát. Do đó, tài chính các-bon cần được thiết kế theo giai đoạn và theo rủi ro, thay vì gắn một “nhãn các-bon” cho một sản phẩm tín dụng duy nhất.

3.2. Bốn điểm nghẽn làm dòng vốn chưa đi nhanh

Thứ nhất, khả năng chuẩn bị dự án: Doanh nghiệp có nhu cầu và định hướng giảm phát thải nhưng chưa xây dựng được phương án, dự án khả thi do chưa rõ doanh thu, công nghệ, đầu ra và trách nhiệm của các bên liên quan.

Thứ hai, dữ liệu và MRV: Trong nông nghiệp, lâm nghiệp rủi ro phân tán, nếu từng hộ tự tổ chức toàn bộ việc đo lường và xác minh, chi phí cao, khó xác định; mô hình theo hợp tác xã hoặc vùng nguyên liệu giúp chia sẻ chi phí nhưng yêu cầu quản trị và kỷ luật dữ liệu chưa rõ ràng.

Thứ ba, độ chắc chắn của nguồn thu: Có thể giảm phát thải thực tế nhưng chưa được cấp tín chỉ; có tín chỉ nhưng chưa có người mua; có hợp đồng nhưng thanh toán chậm hoặc phát sinh tranh chấp.

Thứ tư, phân bổ quyền và lợi ích: Nếu người nông dân, hộ kinh doanh thay đổi quy trình nhưng quyền định đoạt tín chỉ và phần lớn lợi ích nằm ở bên khác mà hợp đồng không rõ, động lực duy trì dự án sẽ yếu và rủi ro xã hội tăng.

Mô hình hệ sinh thái cho thấy, ngân hàng không thay thế tổ chức tư vấn, tổ chức MRV, cơ quan quản lý tiêu chuẩn hay sàn giao dịch. Vai trò của ngân hàng phù hợp là cung cấp vốn, quản lý dòng tiền, huy động nguồn lực, quản trị rủi ro tài chính và kết nối các chủ thể. Việc tách bạch vai trò này giúp hạn chế kỳ vọng rằng ngân hàng phải tự xác minh kỹ thuật hoặc bảo đảm chất lượng tín chỉ.

296-202610130850102.png

Hình 2. Hệ sinh thái thị trường các-bon và vị trí kết nối của ngân hàng. Nguồn: Ban Định chế tài chính Agribank, Báo cáo số 1123/2026/BC-ĐCTC [18].

4. TÍCH HỢP GIÁ TRỊ CÁC-BON VÀO QUYẾT ĐỊNH TÍN DỤNG

4.1. Ba kênh giá trị và nguyên tắc “hai tầng dòng tiền”

Giá trị các-bon có thể tác động đến phương án tài chính qua 3 kênh. Thứ nhất, đầu tư ít phát thải có thể giảm chi phí sản xuất nhờ tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, nước hoặc vật tư. Thứ hai, với doanh nghiệp thuộc phạm vi tuân thủ, giảm phát thải có thể giảm nhu cầu mua bổ sung hạn ngạch. Thứ ba, dự án đáp ứng điều kiện của cơ chế tín chỉ có thể phát sinh doanh thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ. Ba kênh này phải được lượng hóa riêng, tránh cộng trùng.

Như vậy có “hai tầng dòng tiền”: Dòng tiền sản xuất - kinh doanh cốt lõi là nền tảng trả nợ; doanh thu các-bon là tầng bổ sung và chỉ được ghi nhận theo mức độ chắc chắn. Cách tiếp cận này cho phép ngân hàng vẫn hỗ trợ dự án từ sớm, nhưng không biến một kỳ vọng môi trường chưa được xác nhận thành nguồn trả nợ chắc chắn.

4.2. Ghi nhận doanh thu các-bon theo mức độ chắc chắn

Mức 1 - Tiềm năng: Mới có ý tưởng, diện tích, công nghệ hoặc ước tính giảm phát thải. Thu nhập các-bon chỉ nên nằm trong kịch bản bổ sung, chưa dùng làm nguồn trả nợ cơ sở.

Mức 2 - Có cơ sở kỹ thuật và thương mại: Đã có phương pháp phù hợp, dữ liệu đủ chất lượng, dự án/hoạt động được đăng ký theo cơ chế tương ứng và có hợp đồng/đầu ra đáng tin cậy. Có thể xem xét ghi nhận một phần sau khi áp dụng hệ số điều chỉnh rủi ro.

Mức 3 - Đã hình thành quyền đòi tiền: Tín chỉ đã được phát hành hoặc khoản phải thu từ hợp đồng mua bán đã hình thành đủ căn cứ. Ngân hàng có thêm cơ sở xem xét tài trợ, nhưng vẫn phải đánh giá quyền chuyển nhượng, điều kiện thanh toán, năng lực bên mua và rủi ro pháp lý.

5. LỢI THẾ VÀ VAI TRÒ PHÙ HỢP CỦA AGRIBANK

5.1. Nền tảng khách hàng, mạng lưới và tín dụng xanh

Đến giữa năm 2026, tổng tài sản của Agribank trên 2,7 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy động trên 2,5 triệu tỷ đồng và dư nợ cho vay nền kinh tế vượt 2 triệu tỷ đồng. Đến tháng 8/2026, dư nợ dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, chiếm 64,7% tổng dư nợ [12]. Đến ngày 31/7/2026, toàn hệ thống có trên 58.000 tổ vay vốn với hơn 910.000 thành viên và tổng dư nợ trên 216.000 tỷ đồng [12]. Đây là lợi thế đặc thù để tập hợp dữ liệu, tổ chức tài trợ theo chuỗi và đưa các mô hình giảm phát thải đến khu vực sản xuất phân tán.

Về tín dụng xanh, đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng [13]. Năm 2026, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng xanh 3.000 tỷ đồng cho khách hàng cá nhân và chương trình tài trợ nông nghiệp sạch, công nghệ cao 50.000 tỷ đồng [12], [14].

Trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Agribank triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng [16]. Nền tảng này đặc biệt phù hợp để thử nghiệm cách quản lý dữ liệu, dòng tiền và lợi ích các-bon trong một chuỗi sản xuất có tổ chức.

5.2. Năm vai trò theo mức độ khả thi

296-202610130850103.png

Hình 3. Năm vai trò của Agribank trong lĩnh vực tài chính các-bon. Nguồn: Ban Định chế tài chính Agribank, Báo cáo số 1123/2026/BC-ĐCTC [18].

Tài trợ hoạt động giảm phát thải: Cấp vốn cho tài sản, công nghệ, vốn lưu động, MRV và tài trợ cầu nối; ưu tiên phương án có dòng tiền sản xuất khả thi.

Kết nối hệ sinh thái: Kết nối khách hàng với đơn vị tư vấn, tổ chức MRV, tổ chức phát triển, quỹ khí hậu, nhà đầu tư và bên mua; ngân hàng giữ vai trò đầu mối kết nối, không thay thế chức năng xác minh kỹ thuật.

Thanh toán và quản lý dòng tiền: Cung cấp tài khoản dự án, thu hộ - chi hộ, thanh toán trong nước và quốc tế, ngoại hối, bảo lãnh; hỗ trợ phân phối doanh thu theo quyền và thỏa thuận đã được xác lập.

Huy động và dẫn vốn tài chính khí hậu: Khai thác nguồn vốn ưu đãi, tài chính hỗn hợp và cơ chế chia sẻ rủi ro từ các tổ chức tài chính phát triển; gắn vốn với yêu cầu quản trị ESG và báo cáo tác động.

Đối tác tài chính chiến lược đồng hành chuyển đổi xanh: Kết hợp tín dụng xanh, tài trợ chuỗi cung ứng, quản lý dòng tiền và dịch vụ ngân hàng để hỗ trợ khách hàng giảm phát thải, đáp ứng yêu cầu ESG, Net Zero và chuỗi cung ứng.

Thứ tự trên phản ánh mức độ khả thi trong giai đoạn hiện nay: Agribank đang bắt đầu từ chức năng ngân hàng cốt lõi và năng lực sẵn có; các sản phẩm tài chính chuyên biệt dựa trên doanh thu tín chỉ hoặc tài sản các-bon chỉ nên được mở rộng khi quyền tài sản, định giá, thanh khoản và cơ chế xử lý rủi ro đủ rõ.

Xây dựng khung nhận diện dự án giảm phát thải và bộ câu hỏi thẩm định tài chính các-bon; tích hợp với quy trình tín dụng xanh và hệ thống quản lý rủi ro môi trường - xã hội hiện có.

Lựa chọn một số chuỗi có tổ chức tốt để thí điểm: Lúa phát thải thấp, chăn nuôi - biogas, lâm nghiệp bền vững, xử lý chất thải và năng lượng sinh khối; chỉ mở rộng sau khi đánh giá được chi phí MRV, độ trễ thu tiền và hiệu quả tín dụng.

Thiết lập mạng lưới đối tác kỹ thuật đã được sàng lọc; phân định rõ trách nhiệm của ngân hàng, đơn vị tư vấn, tổ chức MRV, chủ dự án và bên mua để tránh rủi ro uy tín và xung đột lợi ích.

Phát triển năng lực cán bộ theo mô hình liên ngành: Tín dụng - rủi ro - pháp lý - ESG - thanh toán - ngoại hối. Cán bộ không cần trở thành chuyên gia cấp tín chỉ nhưng phải đủ năng lực nhận biết dấu hiệu rủi ro và biết khi nào cần ý kiến chuyên gia độc lập.

Xây dựng hệ thống dữ liệu và chỉ tiêu quản trị: Không chỉ theo dõi dư nợ, mà cần theo dõi khả năng trả nợ, chi phí tạo một đơn vị giảm phát thải được xác minh, thời gian từ MRV đến thu tiền, thu nhập thực nhận của người sản xuất và mức độ tuân thủ.

5.3. Các giải pháp đối với Agribank nhằm thúc đẩy thị trường các bon

296-202610130850104.png

Hình 4. Lộ trình đề xuất tham gia tài chính các-bon của Agribank. Nguồn: Ban Định chế tài chính Agribank, Báo cáo số 1123/2026/BC-ĐCTC [18]- đề xuất nghiên cứu

Lộ trình đề xuất nhấn mạnh nguyên tắc đi từ nền tảng đến chuyên biệt: Giai đoạn 2026-2028 tập trung dữ liệu, năng lực, đối tác và thí điểm; giai đoạn 2029-2032 mở rộng hoạt động gắn với thị trường trong nước khi cơ chế vận hành ổn định hơn; từ 2033 trở đi mới nghiên cứu sâu các sản phẩm dựa trên doanh thu hoặc khoản phải thu các-bon. Mốc thời gian là khung nghiên cứu nội bộ, cần được cập nhật theo tốc độ hoàn thiện pháp lý và thanh khoản thực tế của thị trường.

Có thể minh họa cách tiếp cận bằng một chuỗi lúa phát thải thấp. Nhóm nông dân liên kết qua hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua; các bên thống nhất quy trình canh tác, quản lý nước và ghi chép dữ liệu. Đơn vị kỹ thuật xác định phương pháp theo dõi, hỗ trợ MRV và chuẩn bị hồ sơ. Ngân hàng xem xét nhu cầu vốn theo từng chủ thể: vốn vụ mùa cho hộ sản xuất; vốn dịch vụ, thiết bị cho hợp tác xã khi đủ điều kiện; vốn thu mua và chế biến cho doanh nghiệp đầu mối.

Trường hợp Việt Nam đã nhận 51,5 triệu USD cho 10,3 triệu tấn kết quả giảm phát thải lâm nghiệp được xác minh cho thấy doanh thu khí hậu là khả thi khi dữ liệu, phương pháp và hợp đồng đủ chặt chẽ [10]. Với lúa phát thải thấp, World Bank cũng đang hỗ trợ Việt Nam về MRV và huy động tài chính khí hậu, tạo cơ sở để phát triển các cơ chế tài chính dựa trên kết quả trong tương lai [11].

6. KIẾN NGHỊ ĐỂ KHƠI THÔNG DÒNG VỐN XANH GẮN VỚI THỊ TRƯỜNG CÁC-BON

Làm rõ quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi đối với kết quả giảm phát thải/tín chỉ; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý khoản phải thu, giao dịch bảo đảm, kế toán, thuế và ngoại hối đối với các giao dịch có yếu tố các-bon.

Coi dữ liệu và MRV là hạ tầng thiết yếu. Cần có cơ chế giảm chi phí MRV cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vùng nguyên liệu; khuyến khích phương pháp theo nhóm, nền tảng dữ liệu dùng chung và chuẩn hóa thông tin từ đầu dự án.

Phát triển cầu thị trường song song với nguồn cung. Việc hỗ trợ dự án nên gắn từ sớm với yêu cầu của bên mua, tiêu chuẩn tín chỉ, thời kỳ phát sinh, chứng từ, tuyên bố sử dụng và điều kiện thanh toán.

Khuyến khích tài chính hỗn hợp và chia sẻ rủi ro cho giai đoạn chuẩn bị, thí điểm, MRV và đầu tư công nghệ. Hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh hoặc vốn ưu đãi nên gắn với loại rủi ro cụ thể, không thay thế nguyên tắc thẩm định tín dụng.

Bảo đảm quyền lợi người sản xuất và cộng đồng: Hợp đồng cần dễ hiểu, nêu rõ chi phí, quyền dữ liệu, quyền hưởng doanh thu, thời hạn và cơ chế khiếu nại; tránh cấu trúc trong đó bên chịu chi phí chuyển đổi lại không được hưởng lợi tương xứng.

Gắn vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương: Địa phương là nơi trực tiếp ghi nhận tác động tiêu cực hoặc tích cực từ việc giảm phát thải do đó cần chỉ đạo cơ quan chức năng đánh giá MRV khách quan, công bằng, minh bạch; có chính sách sử dụng nguồn vốn ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn đáp ứng yêu cầu xanh, kinh tế tuần hoàn, chuẩn ESG về lãi suất, giảm thuế, tư vấn và đào tạo, mở rộng thị trường.

KẾT LUẬN

Thị trường các-bon làm thay đổi cách nhìn về giá trị của hoạt động giảm phát thải, nhưng giá trị đó chỉ hỗ trợ quyết định tài chính khi 3 mắt xích được nối liền: bằng chứng môi trường đủ tin cậy, quyền kinh tế đủ rõ và dòng tiền đủ có khả năng thu hồi, mang lại hiệu quả tích cực. Đối với ngân hàng thương mại, đây là ranh giới giữa “tiềm năng các-bon” và “nguồn thu có thể thẩm định”.

Với Agribank, lợi thế lớn nhất không nằm ở việc trở thành nhà giao dịch tín chỉ, mà ở khả năng cung ứng vốn, dịch vụ ngân hàng và năng lực kết nối đến nơi tạo ra kết quả giảm phát thải: cánh đồng, trang trại, rừng, nhà máy và chuỗi cung ứng. Hướng đi phù hợp là tài trợ trên cơ sở hiểu rõ dự án, quản trị rủi ro theo từng giai đoạn, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất và từng bước đưa giá trị các-bon đã được kiểm chứng vào quyết định tín dụng. Khi người sản xuất được hưởng lợi, doanh nghiệp có phương án khả thi và ngân hàng kiểm soát được rủi ro, dòng vốn xanh mới có điều kiện mở rộng bền vững.

* Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

[2] Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

[3] Chính phủ (2026), Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước.

[4] Chính phủ (2026), Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.

[5] Chính phủ (2026), Nghị định số 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2025), Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh và Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 17/9/2026 Về Hướng dẫn xác định dự án xanh;

[7] Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật).

[8] Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), thông tin hạn ngạch VN2025 và dữ liệu giao dịch thị trường các-bon, truy cập ngày 06/10/2026.

[9] World Bank (2026), State and Trends of Carbon Pricing 2026.

[10] World Bank (2024), Viet Nam Receives $51.5m World Bank Payment for Reducing Emissions Through Forest Preservation.

[11] World Bank (2025), KWPF Grant Supports Low-carbon Rice Farming in Viet Nam.

[12] Agribank (11/08/2026), Tổ vay vốn Agribank: Bám sát cơ sở, đưa dòng vốn đến gần người dân.

[13] Agribank (2026), Agribank bám sát chỉ đạo của Chính phủ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số; và Agribank - “Điểm tựa” tài chính cho nền nông nghiệp thông minh và bền vững.

[14] Agribank (19/05/2026), Chương trình cho vay ưu đãi tín dụng xanh đối với khách hàng cá nhân, quy mô 3.000 tỷ đồng.

[15] Integrity Council for the Voluntary Carbon Market (ICVCM), Core Carbon Principles.

[16] Agribank (2026), Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL, quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng.

[17] Agribank - Ban Định chế tài chính (2026), Báo cáo số 1123/2026/BC-ĐCTC ngày 26/6/2026 về nghiên cứu thị trường các-bon tại Việt Nam, cơ hội và định hướng phát triển hoạt động tài chính các-bon đối với Agribank (tài liệu nội bộ).

Các tin khác

Tin nổi bật