A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Gỡ nút thắt xuất xứ CPTPP: Dệt may chuyển hướng nguồn cung

Hiệp định CPTPP giúp giảm thuế, mở rộng thị trường cho dệt may Việt Nam, nhưng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” buộc doanh nghiệp phải tính lại bài toán nguyên liệu.

Tổ chức lại nguồn cung

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã mở thêm dư địa tăng trưởng cho ngành dệt may Việt Nam tại những thị trường có sức mua lớn và mức thuế nhập khẩu được cắt giảm theo lộ trình cam kết.

Theo số liệu từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các nước thành viên CPTPP tăng từ 6,27 tỷ USD trước khi hiệp định có hiệu lực lên 8,3 tỷ USD năm 2025, tăng 33,3%.

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam.

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, tăng trưởng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã khai thác hết lợi ích thuế quan. Điểm nghẽn nằm ở khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ, đặc biệt với yêu cầu “từ sợi trở đi”.

Đây là thách thức đáng kể với một ngành có thế mạnh lâu năm về may mặc nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vải và nguyên phụ liệu nhập khẩu. Năm 2018, Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,59 tỷ USD nguyên phụ liệu từ nội khối CPTPP; đến năm 2025, con số này vẫn chỉ quanh 1,58-1,59 tỷ USD. “Nguồn cung nội khối gần như không tăng trưởng, trong khi các nhà cung cấp nguyên phụ liệu lớn của thế giới lại tập trung đáng kể ở những thị trường ngoài CPTPP”, ông Trương Văn Cẩm đánh giá.

Trong chuỗi sản xuất dệt may, Việt Nam đã có năng lực kéo sợi tương đối tốt, nhưng dệt, nhuộm và hoàn tất vải vẫn là những mắt xích còn yếu. Ngành hiện sản xuất hơn 4,2 triệu tấn sợi mỗi năm, trong đó xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn; sản lượng vải đạt khoảng 3,2 tỷ m², với khoảng 1 tỷ m² dành cho xuất khẩu. Những con số này cho thấy năng lực sản xuất trong nước đã hình thành, nhưng chưa đủ để giải quyết toàn diện nhu cầu vải đa dạng về chủng loại, tính năng và chất lượng của các nhãn hàng quốc tế. Đặc biệt, với những dòng hàng kỹ thuật, quần áo trượt tuyết hoặc sản phẩm có yêu cầu thiết kế phức tạp, việc tìm nguồn cung phù hợp càng khó khăn hơn.

Bên cạnh hạn chế về năng lực sản xuất, mô hình kinh doanh cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển đổi nguồn cung. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu làm hàng gia công theo nguyên liệu và mẫu mã của khách hàng. Trong mô hình này, nhãn hàng thường kiểm soát hoặc chỉ định nhà cung cấp, khiến doanh nghiệp may khó tự quyết định sử dụng nguồn nguyên liệu nào, dù nguồn mới có thể giúp đáp ứng xuất xứ CPTPP.

Chuyển đổi nguồn cung, tạo nền tảng tự chủ nguyên liệu

Do đó, việc chuyển đổi nguồn cung không đơn giản là thay một nhà cung cấp ngoài khối bằng một nhà cung cấp trong khối. Doanh nghiệp còn phải thuyết phục khách hàng phê duyệt nguyên liệu mới, kiểm tra chất lượng, tính toán lại chi phí và bảo đảm tiến độ giao hàng.

Doanh nghiệp dệt may chuyển hướng nguồn cung, đáp ứng quy tắc xuất xứ của CPTPP.

Doanh nghiệp dệt may chuyển hướng nguồn cung, đáp ứng quy tắc xuất xứ của CPTPP.

Dù khó nhưng doanh nghiệp dệt may đang nỗ lực thực hiện để tối ưu hóa thuế quan từ CPTPP. Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG là một điển hình, doanh nghiệp chuyển đổi nguồn cung bắt đầu từ những thay đổi cụ thể trong quy trình mua hàng và phát triển sản phẩm.

Trước khi CPTPP có hiệu lực, TNG lựa chọn nhà cung cấp chủ yếu dựa trên ba tiêu chí truyền thống: giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng. Khi quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” trở thành điều kiện quan trọng để hưởng ưu đãi, doanh nghiệp phải bổ sung xuất xứ vào tiêu chí lựa chọn nguyên liệu, đồng thời rà soát và phân loại lại toàn bộ danh mục nhà cung cấp.

Thay vì chỉ tìm nguồn nguyên liệu có giá cạnh tranh tại từng thời điểm, TNG ưu tiên hợp tác dài hạn với các nhà máy đáp ứng yêu cầu xuất xứ, tăng cường kết nối với nhà cung cấp vải trong nước đạt tiêu chuẩn của các nhãn hàng lớn và tránh phụ thuộc vào một vài đầu mối duy nhất.

Đáng chú ý, doanh nghiệp đưa bài toán xuất xứ vào ngay từ giai đoạn phát triển mẫu và chào giá. Bộ phận đơn hàng phối hợp với khách hàng để xác định trước khả năng đáp ứng của nguyên phụ liệu, hạn chế tình trạng sản phẩm đã được duyệt nhưng khi triển khai lại không đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan.

“Chúng tôi so sánh phần chênh lệch giữa giá nguyên liệu và phần thuế được ưu đãi khi khách hàng nhập khẩu tại đầu các nước CPTPP”, ông Trần Minh Hiếu, Tổng giám đốc TNG thông tin. Ông cũng đồng thời nhận định, theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp đánh giá nguyên liệu trên cơ sở tổng chi phí đưa hàng đến đích, thay vì chỉ so sánh giá mua ban đầu. Phần thuế tiết kiệm được có thể bù đắp chênh lệch giá nguyên liệu, nhất là với các đơn hàng có sản lượng lớn.

TNG đồng thời đầu tư vào quản trị dữ liệu xuất xứ. Mỗi lô nguyên phụ liệu nhập kho được gắn mã QR, liên kết với hóa đơn, hợp đồng, chứng từ và giấy xác nhận xuất xứ tương ứng. Dữ liệu từ bộ phận mua hàng, kho đến xuất khẩu được kết nối, giúp doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc theo từng lô nguyên liệu và từng đơn hàng khi khách hàng yêu cầu hoặc có đợt kiểm tra.

Từ kinh nghiệm của TNG, các doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng việc lập bản đồ nguồn cung, xác định xuất xứ và tỷ trọng từng loại nguyên liệu, sau đó phân nhóm theo khả năng thay thế. Nhóm có thể chuyển đổi ngay cần được ưu tiên kết nối với nhà cung cấp trong nước hoặc nội khối. Nhóm còn hạn chế về công nghệ, chất lượng hoặc chủng loại cần có lộ trình thử nghiệm và phát triển. Với nguyên liệu chưa có nguồn cung khả thi, doanh nghiệp cần cân nhắc phương án hợp tác đầu tư, thay vì cố gắng thay thế bằng mọi giá.

Ở tầm ngành, muốn tiến tới tự chủ nguyên liệu, ông Trương Văn Cẩm cho rằng, phải giải quyết căn cơ khâu dệt, nhuộm và hoàn tất vải. Việt Nam có thể thu hút các nhà sản xuất có thế mạnh về công nghệ và nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc để liên doanh, liên kết hoặc đầu tư sản xuất tại Việt Nam.

Cùng với đó, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cần hướng vào những mắt xích thực sự thiếu hụt, tạo điều kiện về vốn, công nghệ, nhân lực và hạ tầng xử lý môi trường cho các dự án dệt nhuộm. Nếu không giải quyết được yêu cầu môi trường và sản xuất xanh, việc mở rộng năng lực dệt nhuộm sẽ khó đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.

Doanh nghiệp cần nhìn CPTPP trong mối liên hệ với các hiệp định thương mại tự do khác. Trong đó, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực bao gồm một số thành viên của CPTPP như Nhật Bản, New Zealand, Australia… giúp kết nối Việt Nam với những trung tâm sản xuất nguyên phụ liệu lớn trong khu vực, tạo thêm lựa chọn về nguồn cung và thị trường.

Hải Linh

Các tin khác

Tin nổi bật