Cấp bách cần có một hệ thống học liệu số quốc gia
Ngày 14/1/2026, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 46/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Ban nghiên cứu và Tổ giúp việc xây dựng Đề án “Dữ liệu học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”. Thứ trưởng Thường trực Phạm Ngọc Thưởng làm trưởng ban.
Ban nghiên cứu và Tổ giúp việc có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất và tham mưu Bộ trưởng xây dựng Đề án “Xây dựng Hệ thống học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đúng tiến độ theo các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và lãnh đạo Bộ.
Đến thời điểm này, một số dự thảo đã được xây dựng, như: Quyết định về việc phân công nhiệm vụ các thành viên Ban nghiên cứu, Tổ giúp việc xây dựng Đề án “Dữ liệu học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”; Báo cáo đề xuất về việc xây dựng Đề án "Dữ liệu học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông"; Kế hoạch xây dựng Đề án “Dữ liệu học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”; Quyết định phê duyệt Đề án “Dữ liệu học liệu số quốc gia đối với giáo dục phổ thông”.
Trong giáo dục phổ thông, chuyển đổi số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là sự thay đổi mang tính hệ thống về phương thức quản lý, phương pháp giảng dạy và mô hình học tập.
Mục tiêu của chuyển đổi số là kiến tạo môi trường giáo dục linh hoạt, hiệu quả, có khả năng cá nhân hóa lộ trình học tập, giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, đặc biệt là năng lực tự học và các kỹ năng số, chuẩn bị hành trang vững chắc để trở thành các công dân số trong kỷ nguyên mới.
Học liệu số là thành tố cốt lõi và là "nhiên liệu" trung tâm cho quá trình chuyển đổi số trong hoạt động dạy và học.

Thứ trưởng Thường trực Phạm Ngọc Thưởng phát biểu tại cuộc họp.
Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu ngành cho 53.000 trường học, gắn mã định danh cho gần 24 triệu hồ sơ học sinh. Hệ thống này chủ yếu phục vụ công tác điều hành, quản lý nhân sự, học sinh và báo cáo thống kê, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên môn về dạy và học. Học liệu số đang được xây dựng một cách tự phát, phân mảnh tại các địa phương, nhà trường và cá nhân giáo viên.
Tình trạng này dẫn đến trùng lặp và lãng phí nguồn lực. Theo đó, nhiều giáo viên ở các nơi khác nhau đang cùng soạn những bài giảng, học liệu cho cùng một đơn vị kiến thức, gây ra sự lãng phí lớn về thời gian và công sức.
Đồng thời, do thiếu quy trình thẩm định chung, chất lượng học liệu rất đa dạng và không được đảm bảo. Việc thiếu một nền tảng chung và các tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất đã tạo ra các "ốc đảo dữ liệu", gây rào cản lớn trong việc chia sẻ, kế thừa, khai thác học liệu giữa các địa phương, cơ sở giáo dục.
Hệ thống khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOC) hiện có được phát triển cho giáo dục đại học, không tương thích với giáo dục phổ thông về cả năng lực phục vụ và chức năng. Hệ thống này chỉ đáp ứng được khoảng 50.000 người dùng đồng thời, trong khi giáo dục phổ thông có thể cần tới 2 triệu truy cập (gấp 40 lần). Các chức năng quản trị, quản lý học liệu và công cụ sư phạm cũng cần được thiết kế lại hoàn toàn để phù hợp với cấu trúc và đặc thù của giáo dục phổ thông.
Việc xây dựng dữ liệu học liệu số quốc gia, tập trung và chuẩn hóa cho giáo dục phổ thông là yêu cầu cấp thiết, mang tính chiến lược. Dữ liệu học liệu số quốc gia giúp thu hẹp khoảng cách số, đảm bảo mọi học sinh, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên giáo dục chất lượng như nhau.









In bài viết

