![]() |
| ThS. Lê Minh Hương, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính). |
Phóng viên: Từ kinh nghiệm quốc tế, xin bà cho biết, chính sách tài chính đã được thiết kế như thế nào để thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, HTX?
ThS. Lê Minh Hương: Trung Quốc là ví dụ điển hình nhất về việc sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tài chính công để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tập thể, HTX. Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cách mạng trong chính sách hỗ trợ, chuyển từ việc “lấy của nông nghiệp nuôi công nghiệp” sang “công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp”. Theo đó, Luật HTX nông dân chuyên ngành đã luật hóa trách nhiệm của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của HTX thông qua tài trợ từ ngân sách.
Ngân sách nhà nước được phân bổ trực tiếp cho các mục tiêu chiến lược thông qua cơ chế “Bốn khoản trợ cấp”, bao gồm trợ cấp trực tiếp cho người trồng ngũ cốc, trợ cấp giống cây trồng chất lượng cao, trợ cấp mua máy móc nông nghiệp và trợ cấp tổng hợp vật tư nông nghiệp. Đặc biệt, chính sách trợ cấp mua máy móc ưu tiên cho HTX, qua đó khuyến khích cơ giới hóa và sản xuất quy mô lớn.
Về thuế, Trung Quốc áp dụng chính sách miễn thuế giá trị gia tăng toàn diện đối với HTX nông dân chuyên ngành, cả ở đầu vào và đầu ra. Đồng thời, nhiều lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Về tín dụng, Trung Quốc xây dựng hệ thống cho vay nông nghiệp chuyên biệt với sự tham gia của các ngân hàng lớn và HTX tín dụng nông thôn.
Ấn Độ và Thái Lan cũng có những cách tiếp cận đáng chú ý, dù quy mô và mức độ can thiệp khác nhau. Ấn Độ xây dựng hệ thống tài chính hỗ trợ HTX đa tầng, kết hợp ngân sách, ưu đãi thuế và tín dụng với lãi suất thấp, đồng thời triển khai mạnh các chương trình bảo hiểm nông nghiệp có trợ cấp. Trong khi đó, Thái Lan tập trung vào vai trò của các định chế tài chính chuyên biệt và phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị, kết hợp bảo hiểm nông nghiệp dựa trên chỉ số.
Phóng viên: Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy những điểm tích cực và hạn chế gì trong chính sách phát triển kinh tế tập thể, thưa bà?
ThS. Lê Minh Hương: Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính định hướng nhằm thúc đẩy kinh tế tập thể. Điển hình là Nghị quyết số 20-NQ/TWngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới và Luật HTX năm 2023 đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và thể chế phát triển khu vực này.
Nhờ các chính sách hỗ trợ kịp thời, kinh tế HTX đã có bước phát triển nhất định, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khu vực này vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về vốn, tín dụng và cơ chế vận hành.
Một trong những hạn chế lớn là khả năng tiếp cận tín dụng còn thấp do thiếu tài sản bảo đảm, trong khi các chính sách hỗ trợ tài chính chưa thực sự đồng bộ và đủ mạnh. Các quỹ hỗ trợ phát triển HTX còn hạn chế về quy mô và cơ chế hoạt động, chưa phát huy hết vai trò trong việc dẫn dắt và hỗ trợ vốn cho khu vực này.
![]() |
| Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính định hướng nhằm thúc đẩy kinh tế tập thể. Ảnh minh họa: ST |
Phóng viên: Từ những kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước, theo bà, Việt Nam cần tập trung vào những giải pháp nào để hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế tập thể?
ThS. Lê Minh Hương: Thứ nhất, cần tiếp tục duy trì và tăng cường phân bổ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển kinh tế tập thể. Nhà nước nên bố trí các chương trình chi ngân sách tập trung, ưu tiên cho cơ giới hóa, phát triển hạ tầng sản xuất và hỗ trợ đầu vào cho HTX. Đồng thời, cần tăng nguồn lực cho các quỹ bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ phát triển HTX để chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, chính sách thuế cần được thiết kế cụ thể và mở rộng hơn. Trong đó, cần nghiên cứu miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các giao dịch nội bộ giữa HTX và thành viên, cũng như xem xét áp dụng cơ chế miễn thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cung ứng và tiêu thụ nông sản trong nội bộ HTX. Điều này sẽ góp phần giảm chi phí, tăng lợi nhuận và thúc đẩy liên kết chuỗi.
Thứ ba, về tín dụng, cần củng cố và nâng cao vai trò của các định chế tài chính phục vụ khu vực HTX. Việt Nam có thể nghiên cứu phát triển Quỹ hỗ trợ phát triển HTX theo hướng trở thành một định chế tài chính độc lập. Đồng thời, phát huy vai trò của Ngân hàng HTX, Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) trong việc cung cấp tín dụng ưu đãi.
Một hướng đi quan trọng là mở rộng các loại tài sản bảo đảm và phát triển các sản phẩm tín dụng dựa trên dòng tiền và chuỗi giá trị. Ngân hàng Nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể về việc nhận thế chấp bằng tài sản hình thành trên đất, hợp đồng bao tiêu sản phẩm, hàng hóa trong kho… nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho HTX tiếp cận vốn.
Thứ tư, cần đẩy mạnh phát triển bảo hiểm nông nghiệp theo hướng phù hợp với đặc thù của HTX. Chính sách bảo hiểm cần đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng đối tượng và đơn giản hóa thủ tục để tăng khả năng tiếp cận. Nhà nước nên khuyến khích sự phối hợp giữa doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng và HTX trong thiết kế các gói bảo hiểm phù hợp.
Về dài hạn, có thể nghiên cứu thí điểm các mô hình bảo hiểm chỉ số, bảo hiểm rủi ro thiên tai dựa trên dữ liệu khí tượng, cũng như phát triển các sản phẩm bảo hiểm tài sản HTX; gắn bảo hiểm nông nghiệp với vay vốn tín dụng. Những giải pháp này sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao khả năng trả nợ và tạo nền tảng cho kinh tế tập thể phát triển bền vững.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà!




