Năm 2025 đánh dấu bước phát triển toàn diện của hệ thống ngân hàng Việt Nam: vừa mở rộng quy mô, vừa củng cố nền tảng công nghệ, tài chính và quản trị rủi ro. Hướng đi kết hợp giữa chuyển đổi số, phát triển xanh và quản trị an toàn vốn đang trở thành chiến lược cốt lõi, giúp các ngân hàng tiến tới mục tiêu phát triển bền vững, hiệu quả và hội nhập quốc tế.
Bước sang năm 2026 và các năm sau trong giai đoạn đến năm 2030, dự báo kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi vững chắc, song vẫn đối mặt với nhiều thách thức từ suy giảm tăng trưởng toàn cầu, lạm phát tiềm ẩn, rủi ro địa chính trị, biến động giá năng lượng và xu hướng biến động khó lường của thị trường tài chính và điều hành chính sách tiền tệ ở các nền kinh tế lớn.
![]() |
| TS. Hoàng Nguyên Khai - Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. |
Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng, việc điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam cần được triển khai chủ động, linh hoạt và thận trọng, nhằm thực hiện các mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng hợp lý với định hướng của Chính phủ là GDP đạt 2 con số; củng cố hệ thống ngân hàng an toàn, hiện đại.
Theo đó, về điều hành cung tiền và tín dụng linh hoạt, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động và linh hoạt, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Chính phủ, riêng GDP năm 2026 tăng trên 10%. Theo đó, định hướng dư nợ tín dụng các năm 2026-2030 cần tăng khoảng 19%-21%, tương đương hoặc cao hơn năm 2025, góp phần thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ.
Vốn tín dụng tập trung sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa; kiểm soát tín dụng bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng rủi ro. Bên cạnh đó, NHNN cần sớm bỏ công cụ hạn mức tín dụng ngay trong năm 2026, nếu không thì cần bỏ trước tiên đối với các NHTM nhà nước và NHTM nhà nước đã cổ phần hóa, các NHTM cổ phần tư nhân có nợ xấu dưới 1% và các tiêu chuẩn an toàn khác theo Basel II.
Về lãi suất và tỷ giá, NHNN cần điều hành theo hướng tiếp tục giảm lãi suất điều hành, tác động giảm lãi suất cho vay, gắn liền với việc điều chỉnh giảm 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, sẽ giải phóng khoảng 80.000 tỷ đồng vốn cho vay của các TCTD đối với nền kinh tế, tác động giảm lãi suất cho vay. NHNN cũng cần kiên định điều hành ổn định tỷ giá, với mức biến động tỷ giá VND/USD tăng không quá 1% trong năm 2026.
Bên cạnh đó, NHNN cần linh hoạt và theo dõi sát lạm phát trong nước, diễn biến lãi suất trên thị trường quốc tế, duy trì tỷ giá trung tâm ổn định một cách tương đối, duy trì quỹ dự trữ ngoại hối đạt trên>100 tỷ USD, thúc đẩy thanh toán song phương bằng nội tệ; thực hiện mua bán 2 chiều can thiêp tỷ giá.
Trong thời gian tới, NHNN cũng cần tiếp tục chỉ đạo các NHTM quyết liệt xử lý nợ xấu và hoàn thiện pháp lý: triển khai định hướng xử lý nợ giai đoạn 2026-2030; phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp; hoàn thiện khung pháp lý về tài sản bảo đảm.
Các NHTM đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng AI, Data, Blockchain; đồng thời cần tiếp tục tăng cường năng lực tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng: tăng vốn điều lệ, cải thiện CAR theo lộ trình Basel III, đa dạng hóa vốn trung - dài hạn và đảm bảo các tỷ lệ an toàn khác theo quy định và theo thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, các NHTM cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số và tín dụng xanh; phát triển sản phẩm tài chính xanh, ưu tiên vốn cho dự án thân thiện môi trường.
Ngoài ra, tôi cho rằng, NHNN và Bộ Tài chính cần tiếp tục tăng cường phối hợp chính sách: tăng cường phối hợp điều hành chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tài khóa để ổn định tổng cầu, kiểm soát giá, thúc đẩy đầu tư công hiệu quả, phát triển bền vững thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, cần tinh giản bộ máy Công ty Quản lý tài sản, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia và Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, tạo điều kiện giảm các loại phí đó, góp phần hỗ trợ các TCTD giảm lãi suất cho vay. Trong quá trình phát triển kinh tế số, đơn giản các thủ tục, giảm các cấp trung gian, hỗ trợ tối đa cho các TCTD, NHNN cần triển khai liên thông, kết nối tự động thông tin giữa các TCTD và Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia.



