TS. Trịnh Thị Thanh Thủy, nghiên cứu viên cao cấp, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách Công Thương, chuyên gia kinh tế đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

TS. Trịnh Thị Thanh Thủy, nghiên cứu viên cao cấp, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển
Mở rộng dư địa từ thị trường nội địa rộng lớn
- Thưa chuyên gia, trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, thị trường nội địa đang được đặt kỳ vọng trở thành một động lực quan trọng. Nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, bà đánh giá dư địa của tăng trưởng thị trường nội địa hiện nay như thế nào?
TS. Trịnh Thị Thanh Thủy: Thị trường trong nước không nên được nhìn nhận đồng nhất với thị trường bán lẻ hay thị trường tiêu dùng, mà cần được xem xét ở phạm vi rộng hơn, bao gồm cung, cầu và hệ thống kết nối cung - cầu của nền kinh tế. Thị trường trong nước vận hành xuyên suốt chuỗi giá trị, từ sản xuất, phân phối, trao đổi đến tiêu dùng. Vì vậy, bên cạnh phát triển các kênh phân phối bán lẻ, kích thích nhu cầu thông qua kinh tế trải nghiệm, du lịch và các dịch vụ, cần nhìn nhận thương mại bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là những tiêu chí quan trọng để đo lường sự phát triển của thị trường trong nước.
Đặc biệt, thị trường trong nước còn là bệ đỡ quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, trong đó có hoạt động xuất khẩu. Một thị trường nội địa phát triển sẽ tạo ra nguồn lực lớn cho sản xuất, cung cấp hàng hóa và các yếu tố đầu vào phục vụ xuất khẩu, đồng thời là đầu ra cho sản phẩm sản xuất trong nước cũng như hàng hóa nhập khẩu.
Với tiềm năng hiện nay, khi thu nhập của người dân từng bước được nâng cao, thói quen mua sắm ngày càng thay đổi, cùng với các chương trình thúc đẩy sản xuất, kích cầu trong nước, phát triển sản xuất có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao chất lượng hàng hóa và tăng cường quản lý thị trường, có thể thấy dư địa phát triển của thị trường nội địa còn rất lớn. Đây là cơ sở để chúng ta kỳ vọng thị trường trong nước sẽ trở thành nền tảng kinh tế vững chắc, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng cao trong tương lai, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Gỡ điểm nghẽn từ sản xuất đến phân phối
- Việt Nam có thị trường nội địa lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất vẫn phụ thuộc đáng kể vào thị trường xuất khẩu và gặp khó trong việc mở rộng hệ thống phân phối trong nước. Theo bà, điểm nghẽn lớn nhất đang nằm ở đâu?
TS. Trịnh Thị Thanh Thủy: Trên thực tế, nhận định doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng hóa nhưng còn phụ thuộc nhiều vào đầu ra từ thị trường nước ngoài là có cơ sở và được thể hiện qua các số liệu thống kê.
Trong bối cảnh Việt Nam có độ mở kinh tế cao, đã ký kết 19 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó 17 hiệp định đang có hiệu lực, cùng nhiều FTA thế hệ mới, cánh cửa đưa hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế ngày càng rộng mở. Thực tế, hàng hóa Việt Nam đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Doanh nghiệp Việt Nam đã có thể đưa hàng hóa ra thị trường quốc tế thông qua các kênh phân phối nước ngoài, nhưng khi quay trở lại thị trường trong nước, hệ thống phân phối nội địa đang tồn tại những khó khăn, điểm nghẽn nào?
Theo tôi, thu nhập không hẳn là điểm nghẽn lớn nhất của thị trường trong nước hiện nay. Với mức tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng khoảng 13,3%, sau khi loại trừ yếu tố tăng giá, sức mua thực tế vẫn tăng hơn 7%. Điều đó cho thấy thị trường nội địa còn dư địa tăng trưởng và nhu cầu tiêu dùng vẫn hiện hữu.
Vấn đề thứ hai là niềm tin của người tiêu dùng. Tại sao hàng hóa Việt Nam có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế, nhưng không phải doanh nghiệp sản xuất trong nước nào cũng có thể chinh phục được người tiêu dùng nội địa? Câu chuyện nằm ở chất lượng, giá cả, nguồn gốc xuất xứ, đặc biệt đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm là các tiêu chí về an toàn và tính hữu cơ. Đây cũng là những yếu tố quyết định niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm trong nước.
Tuy nhiên, theo tôi, điểm nghẽn quan trọng nhất hiện nay vẫn là khả năng kết nối giữa nhà sản xuất và hệ thống phân phối. Những khó khăn không chỉ nằm ở sản lượng, mùa vụ, chất lượng sản phẩm mà còn ở chính sách chiết khấu và các điều kiện để hàng hóa có thể tham gia vào hệ thống phân phối đa kênh (omnichannel), đặc biệt là các kênh bán lẻ hiện đại.
Một vấn đề khác là tư duy sản xuất. Không ít doanh nghiệp vẫn duy trì tập quán sản xuất theo cách truyền thống: sản xuất xong mới tính đến thị trường, thay vì chủ động nắm bắt tín hiệu thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng để tổ chức sản xuất phù hợp. Khi chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế, doanh nghiệp sẽ khó xây dựng được sản phẩm đáp ứng kỳ vọng của khách hàng, qua đó tạo dựng niềm tin và mở rộng đầu ra bền vững.
Vì vậy, để phát triển thị trường trong nước, bên cạnh nâng cao thu nhập và củng cố niềm tin, cần đặc biệt chú trọng tháo gỡ những điểm nghẽn trong kết nối sản xuất - phân phối, giúp hàng Việt tiếp cận hiệu quả hơn với người tiêu dùng trong nước.
Điểm nghẽn thứ tư nằm ở nhu cầu của thị trường trong nước. Nhưng nhu cầu ở đây không chỉ là nhu cầu tiêu dùng mà còn là nhu cầu phục vụ sản xuất. Quy mô nhu cầu này rất lớn, nhưng câu hỏi đặt ra là chúng ta đã đáp ứng được hay chưa, đặc biệt ở các yếu tố về chi phí và giá thành. Khi các chi phí này còn cao, giá thành hàng hóa trong nước sẽ bị đẩy lên và làm giảm khả năng cạnh tranh, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau mà còn với hàng hóa nhập khẩu.
Đây cũng là điều cần đặc biệt lưu ý trong câu chuyện kích cầu. Nếu không có giải pháp đồng bộ, việc kích cầu có thể vô tình làm gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu. Khi người tiêu dùng tăng mua sắm nhưng phần lớn nhu cầu lại được đáp ứng bằng hàng nhập khẩu, tác động lan tỏa đối với sản xuất trong nước sẽ hạn chế, thậm chí có thể tác động ngược trở lại đối với mục tiêu tăng trưởng GDP.

Tăng trưởng thị trường trong nước đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế đất nước.
Kích cầu phải đi cùng nâng sức cạnh tranh
- Nhìn về những tháng cuối năm 2026 và xa hơn, nếu mục tiêu là phát huy tối đa sức mạnh thị trường nội địa để hỗ trợ tăng trưởng 2 con số, theo bà Việt Nam cần một chính sách hay nhóm giải pháp mang tính đột phá nào?
TS. Trịnh Thị Thanh Thủy: Thời gian từ nay đến cuối năm còn rất ngắn, bởi hiện nay đã là giữa tháng 9, chỉ còn hơn ba tháng nữa. Vì vậy, tôi cho rằng, cần có một gói kích cầu tổng thể.
Tuy nhiên, theo tôi, gói kích cầu tổng thể này nên được xác định là giải pháp trong ngắn hạn, tập trung thực hiện từ nay đến cuối năm. Còn trong dài hạn, từ những năm tiếp theo, tôi cho rằng Bộ Công Thương, theo chức năng, nhiệm vụ mới được Chính phủ giao, có thể xây dựng một chương trình tổng thể ở cấp quốc gia về phát triển thị trường trong nước.
Trong chương trình đó cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó cốt lõi nhất là làm thế nào để tăng sức mua thực tế, tăng nhu cầu thực tế của người dân đối với hàng hóa Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng nhất.
Khi sức mua thực tế được cải thiện, cùng với việc phát triển sản xuất trong nước theo đúng yêu cầu và tín hiệu của thị trường, sẽ tạo ra động lực để mở rộng sản xuất. Khi sản xuất mở rộng, nhu cầu đầu tư cũng tăng lên, đồng thời kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Chúng ta đều biết nền kinh tế Việt Nam hiện có độ mở rất lớn và đang đồng thời phát triển nhiều mô hình kinh tế mới, trong đó có kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc và kinh tế trải nghiệm. Gần đây, một tổ chức quốc tế đã khảo sát tại Việt Nam và cho thấy có tới 80% người tiêu dùng đồng tình với việc chi thêm tiền cho kinh tế trải nghiệm.
Đây là một dư địa rất lớn để phát triển thị trường trong nước. Nếu khai thác tốt nhu cầu này, cùng với việc nâng cao sức mua thực tế và phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, chúng ta có thể tạo ra một chuỗi động lực từ tiêu dùng, sản xuất, đầu tư đến dịch vụ, qua đó mở rộng và phát triển thị trường trong nước theo hướng bền vững hơn.
Đặc biệt, điều quan trọng nhất không chỉ là mở rộng số lượng hay quy mô các kênh phân phối, mà phải giải quyết được bài toán kết nối giữa người sản xuất với các kênh phân phối.
Làm thế nào để doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất có thể tham gia được vào các kênh phân phối đó? Làm thế nào để các kênh phân phối phát triển tới vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, qua đó mở rộng không gian thị trường? Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và thu nhập bình quân tiếp tục được cải thiện, đây sẽ là một khu vực thị trường còn nhiều tiềm năng.
Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao cũng đặt ra yêu cầu phát triển các kênh phân phối phù hợp tại các khu đô thị mới, khu công nghiệp và những khu vực tập trung đông dân cư. Những vấn đề này cần được đặt trong một chương trình tổng thể quốc gia về phát triển thị trường trong nước.
Tôi cho rằng chương trình đó có thể bao quát những nhóm giải pháp đã đề cập, cùng với các giải pháp cụ thể từ phía doanh nghiệp như tiếp tục đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi của tất cả các giải pháp nhằm tăng sức mua là phải làm sao để dòng tiền chi tiêu trong thị trường trong nước quay trở lại nhiều hơn với doanh nghiệp Việt Nam và các đơn vị sản xuất trong nước, thay vì phần giá trị gia tăng lớn hơn lại thuộc về các hệ thống phân phối nước ngoài hoặc các doanh nghiệp FDI.
Đây mới là vấn đề cốt lõi để thị trường trong nước phát triển bền vững. Khi người dân chi tiêu cho mua sắm, tiêu dùng, hay doanh nghiệp chi tiêu cho sản xuất, điều quan trọng là dòng tiền đó phải tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất cho nền kinh tế và quay trở lại hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà sản xuất Việt Nam.
Để duy trì tăng trưởng thị trường nội địa, không chỉ cần tăng sức mua, mà phải quan tâm đến việc sức mua đó được chuyển hóa thành giá trị như thế nào và giá trị đó ở lại ở đâu. Nếu kết nối tốt từ sản xuất đến phân phối và tiêu dùng, để phần giá trị gia tăng lớn hơn quay trở lại với doanh nghiệp Việt Nam, thì khi đó chúng ta mới có thể tạo dựng được một thị trường trong nước phát triển bền vững trong tương lai.
Xin cảm ơn bà!



