![]() |
| Trẻ có thể học cách lao động bằng chính công việc nhà đơn giản. Ảnh: Nutifood. |
Làm thế nào để trẻ hiểu giá trị của công sức và hình thành tinh thần trách nhiệm từ những việc gần gũi? Đó là vấn đề đặt ra với gia đình, nhà trường và xã hội.
Được chăm sóc đầy đủ hơn và tiếp cận nhiều kiến thức hơn, không phải trẻ nào cũng có cơ hội trực tiếp tham gia những công việc tạo nên đời sống hằng ngày. Khoảng cách giữa trẻ với lao động thực tế đặt ra câu hỏi: các em hiểu thế nào về công sức của người khác và giá trị của những điều mình đang có?
Trẻ ít phải lao động
Một bữa cơm được dọn lên bàn, bộ quần áo sạch trong tủ hay căn phòng gọn gàng là những điều quen thuộc với nhiều trẻ. Tuy nhiên, phía sau những tiện nghi ấy là hàng loạt công việc đòi hỏi thời gian và công sức: chọn thực phẩm, nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp, sửa chữa và bảo quản đồ dùng.
Trong nhịp sống hiện đại, không ít trẻ được cha mẹ chăm lo gần như toàn bộ sinh hoạt. Các em có thể dành nhiều thời gian cho học tập, học thêm, giải trí và sử dụng thiết bị điện tử; trong khi đó, những công việc duy trì đời sống gia đình chủ yếu do người lớn đảm nhận.
Hồ Minh Anh, học sinh lớp 9 tại Hà Nội, cho biết em thường ăn sáng ở ngoài hoặc được mẹ chuẩn bị sẵn. Quần áo của em cũng do mẹ giặt, là và sắp xếp. Vào cuối tuần, gia đình đôi khi cùng nấu ăn, nhưng em ít tham gia vì còn bài tập và muốn dành thời gian nghỉ ngơi.
“Em biết nấu một vài món đơn giản nhưng không thường xuyên làm. Bình thường mẹ nấu thì em ăn; quần áo cũng có bác giúp việc hoặc mẹ giặt giúp. Em chưa nghĩ nhiều đến việc để có bữa cơm, mẹ phải chuẩn bị những gì”, Minh Anh chia sẻ.
Câu chuyện của Minh Anh không đại diện cho mọi học sinh nhưng cho thấy một khía cạnh đáng chú ý trong đời sống gia đình: trẻ có thể quen với kết quả của lao động mà ít trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra kết quả ấy.
Bà Nguyễn Thị Lan (63 tuổi), sống cùng con cháu ở ngoại thành Hà Nội, nhận xét rằng trẻ nhỏ trong gia đình hiện nay ít tham gia những công việc mà thế hệ bà từng làm từ sớm. “Ngày trước, trẻ con thường phụ người lớn nhặt rau, quét sân, cho gà ăn, tưới cây. Công việc không nặng nhọc nhưng ngày nào cũng có. Bây giờ các cháu đi học cả ngày, về nhà còn học bài, giải trí nên nhiều việc ông bà, bố mẹ làm luôn cho nhanh”, bà Lan nói.
Theo bà Lan, sự khác biệt không chỉ nằm ở điều kiện sống mà còn ở cách tổ chức sinh hoạt. Người lớn muốn con cháu có thời gian học tập, không phải vất vả như thế hệ trước. Vì vậy, những công việc nhỏ vốn gắn với đời sống thường ngày dần trở thành phần việc của người lớn.
Ở đô thị, thực phẩm được mua tại siêu thị, đồ ăn có thể giao tận nhà, quần áo được giặt bằng máy; việc vệ sinh và bảo trì ở nhiều khu dân cư do nhân viên chuyên trách đảm nhiệm. Các công việc vẫn diễn ra nhưng không phải lúc nào cũng hiện diện trước mắt trẻ.
Ở nông thôn, trẻ có thể dễ dàng quan sát ruộng đồng, vườn cây, vật nuôi hoặc công việc buôn bán của gia đình. Tuy nhiên, gần gũi với không gian lao động không đồng nghĩa với việc trực tiếp tham gia hay hiểu rõ quá trình sản xuất. Nhiều em vẫn dành phần lớn thời gian cho học tập và giải trí, còn công việc gia đình do người lớn đảm nhiệm.
Như vậy, khoảng cách giữa trẻ với lao động không đơn thuần được đo bằng việc các em có biết nấu cơm, quét nhà hay chăm sóc cây cối hay không. Điều đáng chú ý hơn là liệu trẻ có cơ hội nhận biết những công việc cần thiết để duy trì cuộc sống, cũng như công sức của người thực hiện chúng.

Biết một quy trình qua hình ảnh khác với trực tiếp tham gia vào quy trình ấy. Ảnh: INT.
Những trải nghiệm bị thu hẹp
Có nhiều nguyên nhân khiến trẻ ít tham gia các công việc đời thường. Trong đó, ưu tiên dành cho học tập, tâm lý muốn chăm sóc con tốt nhất và tiện ích của đời sống hiện đại là những yếu tố dễ nhận thấy.
Anh Trần Quốc Duy, phụ huynh có con học lớp 6 tại Khánh Hòa, cho biết gia đình thường ưu tiên sự thuận tiện trong sinh hoạt. Khi con làm đổ nước, bày đồ chơi hoặc để quần áo chưa gọn gàng, anh và vợ đôi khi tự xử lý vì muốn tiết kiệm thời gian.
“Có lúc tôi nghĩ con còn nhỏ, cứ để bố mẹ làm cho nhanh. Đến khi hỏi con vì sao phải giữ gìn đồ dùng, tôi mới nhận ra mình thường nhắc con về kết quả nhưng ít khi để con trực tiếp tham gia những việc tạo ra kết quả đó”, anh Duy chia sẻ.
Chị Phạm Thu Hà, mẹ của một học sinh lớp 5, cũng thừa nhận chị ít giao việc nhà cho con vì lo ảnh hưởng đến thời gian học.
“Đi học về, con còn bài tập và lịch học thêm. Nếu để con nấu ăn hay dọn dẹp thì tôi phải hướng dẫn, đôi khi còn mất thời gian hơn tự làm. Tôi muốn con học tốt nên thường làm giúp”, chị Hà nói.
Các phụ huynh đều khẳng định, việc người lớn làm thay không xuất phát từ quan điểm xem nhẹ lao động. Đôi khi, cha mẹ mong con có điều kiện học tập tốt hơn, tránh những vất vả mà mình từng trải qua. Khi có thể sử dụng dịch vụ hoặc thiết bị hỗ trợ, họ cũng dễ chọn phương án nhanh chóng, thuận tiện.
Bên cạnh đó, lịch sinh hoạt của trẻ có thể khá dày đặc. Sau giờ học chính khóa, nhiều em tiếp tục học thêm, tham gia lớp năng khiếu hoặc hoàn thành bài tập. Thời gian còn lại dành cho nghỉ ngơi, vui chơi và sử dụng thiết bị điện tử. Trong quỹ thời gian ấy, công việc gia đình thường không được xem là hoạt động cần có mặt thường xuyên.
Nhìn nhận khách quan, anh Quốc Duy cho rằng sự thay đổi này khiến trẻ ít có cơ hội trải nghiệm những việc tưởng chừng đơn giản nhưng đòi hỏi tính kiên trì. Chăm sóc một chậu cây không chỉ là tưới nước một lần; giữ gìn một món đồ không chỉ là cất nó đúng chỗ; chuẩn bị một bữa ăn cũng không dừng ở việc đặt món lên bàn. Khi không trực tiếp tham gia, trẻ có thể khó hình dung những công việc ấy cần bao nhiêu thời gian, gồm những công đoạn nào và vì sao đôi khi kết quả không đến ngay lập tức.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thực tế theo chiều ngược lại. Không phải trẻ nào cũng được miễn trừ công việc gia đình. Ở những gia đình khó khăn hoặc thiếu người chăm sóc, một số em phải nấu ăn, dọn dẹp, chăm em nhỏ hay hỗ trợ công việc mưu sinh. Khi trách nhiệm vượt quá khả năng và thời gian phù hợp với lứa tuổi, lao động có thể trở thành gánh nặng, ảnh hưởng đến học tập, nghỉ ngơi và phát triển.
Theo Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2020-2021 do Cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ của UNICEF và UNFPA, tỷ lệ lao động trẻ em từ 5-17 tuổi tại Việt Nam là 6,6%. Tây Nguyên có tỷ lệ cao nhất trong sáu vùng kinh tế, ở mức 13%; Đồng bằng sông Hồng thấp nhất, ở mức 2,9%.
Đây là số liệu về lao động trẻ em theo tiêu chí thống kê, không phải tỷ lệ trẻ tham gia việc nhà thông thường. Dù không phản ánh trực tiếp mức độ trải nghiệm lao động của trẻ, số liệu cho thấy điều kiện sống và hoàn cảnh gia đình có thể tạo ra những khác biệt đáng kể: một bộ phận trẻ ít tham gia công việc đời thường, trong khi một bộ phận khác phải đảm nhận công việc vượt quá mức phù hợp.
Vì thế, không thể đánh giá thái độ với lao động chỉ bằng số lượng công việc trẻ làm. Một đứa trẻ làm nhiều việc chưa chắc đã hiểu đúng giá trị của sức lao động; trẻ ít làm việc nhà cũng không mặc nhiên thiếu trách nhiệm hay vô cảm. Vấn đề nằm ở tính chất trải nghiệm và nhận thức được hình thành từ trải nghiệm ấy.

Ảnh minh họa: ITN.
Biết chưa chắc đã hiểu
Công nghệ giúp trẻ tiếp cận kiến thức về nghề nghiệp, sản xuất và đời sống ở phạm vi rộng hơn trước. Chỉ với một thiết bị có kết nối Internet, các em có thể xem video về trồng lúa, chế biến thực phẩm, làm đồ thủ công hoặc hoạt động của người lao động tại nhiều quốc gia.
Nhưng biết một quy trình qua hình ảnh khác với trực tiếp tham gia vào quy trình ấy. Trẻ có thể xem video về người nông dân gieo hạt, chăm sóc cây và thu hoạch nông sản, song chưa chắc hình dung được việc chăm cây đòi hỏi sự kiên nhẫn ra sao, thời tiết ảnh hưởng thế nào đến sản xuất hay một vụ mùa thất bát tác động đến thu nhập của người trồng trọt ra sao.
Minh Anh cho biết em từng xem nhiều video về làm bánh và trồng rau trên mạng, nhưng chưa tự tay làm một chiếc bánh hoàn chỉnh hay chăm sóc một luống rau trong thời gian dài. “Xem video thì em thấy khá dễ, nhưng nếu tự làm chắc sẽ có nhiều việc hơn. Em nghĩ trồng rau chỉ cần tưới nước, nhưng có lẽ còn phải chăm sóc, bắt sâu và chờ cây lớn. Em chưa thực sự biết phải làm thế nào”, em nói.
Khoảng cách giữa quan sát và trải nghiệm còn thể hiện trong cách trẻ sử dụng đồ dùng. Một chiếc bút hết mực, đôi giày bị bẩn hay món đồ chơi bị hỏng có thể được thay thế hoặc xử lý nhanh chóng. Nếu ít tham gia việc vệ sinh, bảo quản và sửa chữa những vật dụng đơn giản, trẻ có thể không chú ý đến công sức cần thiết để tạo ra và duy trì chúng.
Ông Nguyễn Văn Lâm (68 tuổi), từng làm thợ mộc trước khi nghỉ hưu, nhận xét sự khác biệt giữa các thế hệ thể hiện khá rõ ở cách nhìn nhận đồ vật.
“Ngày trước, cái bàn, cái ghế hỏng một chút thì người ta tìm cách sửa vì biết làm ra nó không đơn giản. Bây giờ đồ dùng có thể mua lại nhanh hơn, trẻ cũng ít nhìn thấy người lớn sửa chữa. Các cháu biết món đồ có giá bao nhiêu, nhưng chưa chắc biết để làm ra nó cần những công đoạn nào”, ông Lâm chia sẻ.
Sự tiện lợi của đời sống hiện đại không phải điều tiêu cực. Tuy nhiên, khi các công đoạn sản xuất, bảo quản và sửa chữa ít xuất hiện trong trải nghiệm của trẻ, hiểu biết về lao động có thể chủ yếu dừng ở thông tin và hình ảnh.
Trẻ biết chiếc áo được làm từ vải, thực phẩm được đưa từ nơi sản xuất đến cửa hàng, nhưng chưa chắc hiểu rõ quá trình lao động phía sau. Các em có thể nhận diện nhiều nghề nghiệp qua video hoặc sách vở, nhưng ít có dịp quan sát điều kiện làm việc, trách nhiệm và những khó khăn cụ thể của người lao động.
Điều này không có nghĩa trải nghiệm trực tiếp là con đường duy nhất để hiểu về lao động. Sách vở, hoạt động học tập và quan sát cũng có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, khi kiến thức không gắn với trải nghiệm đời thường, trẻ có thể khó hình dung đầy đủ mối liên hệ giữa công sức bỏ ra và kết quả nhận được.
Khoảng cách với lao động thực tế có thể ảnh hưởng đến cách trẻ nhìn nhận những điều quen thuộc trong cuộc sống. Khi bữa ăn, quần áo sạch hay không gian gọn gàng luôn sẵn có, các em có thể coi đó là trạng thái bình thường mà ít chú ý đến công việc duy trì chúng.
Điều này không đồng nghĩa mọi trẻ đều thiếu lòng biết ơn. Một đứa trẻ có thể yêu thương cha mẹ, biết nói lời cảm ơn nhưng chưa hình dung được một ngày của người thân gồm những công việc gì. Sự quan tâm vẫn có thể tồn tại, song hiểu biết về sự vất vả của người khác chưa chắc đã gắn với những trải nghiệm cụ thể.




