A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Khi dữ liệu trở thành công cụ quản trị nhà trường

Dữ liệu giúp cán bộ quản lý nắm sát hoạt động nhà trường, có thêm căn cứ trong điều hành và ra quyết định.

Giờ học ứng dụng công nghệ tại Trường Tiểu học Chu Văn An (phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình).
Giờ học ứng dụng công nghệ tại Trường Tiểu học Chu Văn An (phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình).

Từ số hóa đến khai thác dữ liệu

Chuyển đổi số đang làm thay đổi không chỉ cách giáo viên tổ chức dạy học mà cả phương thức quản trị nhà trường. Khi ngày càng nhiều hoạt động được đưa lên môi trường số, cán bộ quản lý đứng trước yêu cầu mới: không chỉ biết sử dụng phần mềm mà còn phải biết khai thác dữ liệu phục vụ công việc.

Tại Ninh Bình, hệ thống cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục tiếp tục được hoàn thiện, kết nối, đồng bộ với cơ sở dữ liệu của Bộ GD&ĐT và Trung tâm điều hành thông minh (IOC) của tỉnh.

100% cơ sở giáo dục triển khai phần mềm quản lý nhà trường; sử dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử, cổng thông tin điện tử, thư điện tử, hồ sơ điện tử và các phần mềm quản lý tài chính, tài sản, thư viện, thời khóa biểu, thanh toán không dùng tiền mặt. 100% cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên triển khai học bạ số.

Những nền tảng này tạo ra lượng dữ liệu ngày càng lớn về người học, đội ngũ, hoạt động chuyên môn và quản trị. Nhưng có dữ liệu mới là điều kiện ban đầu. Giá trị thực sự nằm ở khả năng khai thác dữ liệu để nhận diện vấn đề và hỗ trợ quyết định quản lý.

Chẳng hạn, dữ liệu về kết quả học tập nếu được cập nhật và phân tích phù hợp có thể hỗ trợ nhà trường theo dõi chất lượng; thông tin về đội ngũ có thể phục vụ rà soát nhu cầu bố trí, bồi dưỡng; dữ liệu về học sinh có thể cung cấp thêm căn cứ khi tổ chức các hoạt động giáo dục.

chatgpt-image-08-23-00-24-thg-9-2026.png

Học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Tất Thành (phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình) trong giờ học có sự hỗ trợ của thiết bị công nghệ.

Thầy Nguyễn Quốc Thái, Hiệu trưởng Trường THCS Bắc Vũ Dương (xã Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình), chia sẻ: “Trước đây, nhiều thông tin phải tổng hợp từ từng bộ phận, từng báo cáo nên mất khá nhiều thời gian. Khi dữ liệu được cập nhật đầy đủ trên các hệ thống, cán bộ quản lý có thể theo dõi thuận lợi hơn. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là có số liệu, mà phải biết đọc, đối chiếu và sử dụng thông tin đó để phục vụ quản lý, điều hành nhà trường”.

Đây cũng là yêu cầu được ngành Giáo dục Ninh Bình đặt ra trong năm học 2026-2027: đổi mới quản trị cơ sở giáo dục theo hướng hiện đại, dân chủ, công khai, minh bạch, tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình; tăng cường ứng dụng dữ liệu trong quản trị nhà trường, quản lý chất lượng và ra quyết định.

Dữ liệu phải đủ tin cậy để ra quyết định

Để quản trị dựa trên dữ liệu, trước hết dữ liệu phải bảo đảm chất lượng.

Thực tế sau sắp xếp cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết. Theo báo cáo của ngành Giáo dục Ninh Bình, hệ thống dữ liệu nhân sự ở một số địa phương chưa thống nhất, phải rà soát nhiều lần. Một trong những nguyên nhân là quy mô mạng lưới và đội ngũ sau sáp nhập địa giới hành chính tăng mạnh, trong khi nguồn dữ liệu tổng hợp từ nhiều hệ thống cũ chưa được chuẩn hóa, liên thông kịp thời.

Vì vậy, định hướng thời gian tới là hoàn thiện, kết nối và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung”; đồng thời quy định rõ trách nhiệm cập nhật, xác thực, bảo vệ và khai thác dữ liệu của từng cấp quản lý và cơ sở giáo dục.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực của cán bộ quản lý. Bên cạnh kỹ năng sử dụng các nền tảng số, người quản lý cần biết dữ liệu nào cần theo dõi, kiểm tra độ tin cậy, phát hiện thông tin bất thường và khai thác dữ liệu phù hợp với từng nhiệm vụ quản trị.

Cô Cao Thị Châu Yên, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ý Yên (xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình), cho rằng: “Dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi được cập nhật chính xác và được sử dụng trong công việc. Nếu thông tin chưa đầy đủ hoặc không thống nhất thì việc tổng hợp, phân tích cũng khó bảo đảm. Vì vậy, cùng với hoàn thiện các hệ thống, cán bộ quản lý cũng cần được bồi dưỡng kỹ năng khai thác dữ liệu, từ đó có thêm căn cứ khi xây dựng kế hoạch và đưa ra các quyết định của nhà trường”.

Yêu cầu này cho thấy năng lực số của cán bộ quản lý không nên chỉ được nhìn ở khả năng thao tác trên phần mềm. Sử dụng thành thạo hệ thống là cần thiết, nhưng người quản lý còn phải biết lựa chọn thông tin cần thiết, phân tích dữ liệu và biến những con số thành căn cứ phục vụ quản trị.

Đó cũng là lý do việc xây dựng chuẩn và công cụ đánh giá năng lực chuyển đổi số đối với cán bộ quản lý cần chú ý tới năng lực làm việc với dữ liệu. Đánh giá không chỉ xem cán bộ quản lý có sử dụng được hệ thống hay không, mà còn cần hướng tới khả năng cập nhật, xác thực, bảo vệ và khai thác dữ liệu phục vụ công việc.

Khi dữ liệu ngày càng trở thành một phần của hoạt động quản trị, yêu cầu đối với người đứng đầu nhà trường cũng thay đổi. Cán bộ quản lý cần từng bước hình thành năng lực quản trị dựa trên dữ liệu, để những thông tin đã được số hóa thực sự trở thành căn cứ hỗ trợ quản lý chất lượng và ra quyết định.

Các tin khác

Tin nổi bật