![]() |
| Học sinh Trường THCS Chu Văn An tham gia các dự án stem. Ảnh NTCC. |
Tối ưu vai trò người thầy
Đứng ở góc độ quản lý giáo dục, ông Nguyễn Anh Tuấn – Hiệu trưởng Trường THCS Chu Văn An (phường Việt Hưng, Hà Nội) khẳng định giá trị lớn nhất của chuyển đổi số và AI không thể hiện ở số lượng hiệu ứng, phần mềm được áp dụng trong một bài giảng, mà ở chỗ giáo viên có thêm thời gian, công cụ để thiết kế hoạt động học tập tốt hơn.
Giải thích về điều này, ông Nguyễn Anh Tuấn lấy ví dụ việc xây dựng hệ thống bài tập có nhiều mức độ phân hóa khác nhau cho học sinh trong cùng một lớp cần giáo viên biên soạn trong thời gian khá dài.
“Hiện tại với sự hỗ trợ của AI, thầy cô có thể nhanh chóng tạo ra nhiều phương án câu hỏi ở nhiều mức độ, sau đó giáo viên thẩm định, chỉnh sửa và lựa chọn câu hỏi phù hợp nhất với học sinh của mình”, ông Nguyễn Anh Tuấn nói.
Ngoài ra, AI còn hỗ trợ phân tích dữ liệu học, giúp nhận diện nội dung học sinh còn yếu, nhóm học sinh cần được hỗ trợ hoặc những năng lực cần tiếp tục phát triển. Đồng thời, tăng tính trải nghiệm trong dạy và học. Một vấn đề trong sách giáo khoa có thể được chuyển thành video, mô phỏng, bản đồ tương tác, dữ liệu trực quan, sản phẩm số hoặc dự án nhỏ để thu hút học sinh.

Ông Nguyễn Anh Tuấn (thứ 8 từ phải sang) – Hiệu trưởng Trường THCS Chu Văn An cùng học trò. Ảnh NTCC.
Từ đó, giúp nhà trường chuyển từ mô hình dạy học truyền thống “Một bài giảng - một cách dạy - một hệ thống bài tập cho tất cả học sinh” sang “Một mục tiêu học tập - nhiều con đường tiếp cận - nhiều mức độ và hình thức hoạt động phù hợp với người học”.
Mặt khác, ông Nguyễn Anh Tuấn lưu ý rằng AI không tự động tạo ra một bài giảng hay. “Công nghệ chỉ thực sự nâng cao chất lượng giáo dục khi được đặt trong một ý tưởng sư phạm tốt, điều đó đòi hỏi nhà giáo phải có năng lực, tư duy sáng tạo độc lập”, vị hiệu trưởng nhấn mạnh.
Đối với Trường THCS Chu Văn An, nhà trường xác định chuyển đổi số bắt đầu từ việc thay đổi cách tổ chức dạy học và quản lý giáo dục theo hướng hiện đại, cá thể hóa và lấy học sinh làm trung tâm.
Điều kiện tiên quyết là không được để công nghệ dẫn dắt thụ động. Ngược lại, cần có sự kiểm soát và làm chủ công nghệ.
Thay vì yêu cầu mỗi giáo viên phải sử dụng thật nhiều công cụ AI, nhà trường đặt câu hỏi công cụ này giải quyết vấn đề giáo dục nào, có giúp học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn không? Trả lời được những câu hỏi đó sẽ có nền tảng, định hướng rõ ràng để triển khai ứng dụng công nghệ trong dạy học, quản trị thiết thực hơn.
Đối với đội ngũ giáo viên, nhà trường khuyến khích khai thác nền tảng số và AI để hỗ trợ xây dựng kế hoạch bài dạy, tạo tình huống học tập, xây dựng bài tập, kiểm tra – đánh giá và cung cấp phản hồi cho học sinh,...
Mỗi nhà giáo có năng lực số, tốc độ thích ứng khác nhau. Hiểu được điều đó nên nhà trường chú trọng công tác tập huấn và tổ chức chia sẻ kinh nghiệm trong tổ chuyên môn để nâng cao năng lực đội ngũ.
Đồng thời, xây dựng các nhóm giáo viên hỗ trợ nhau để khuyến khích thầy cô thử nghiệm cách làm mới, phù hợp với bản thân và thực tiễn giảng dạy.
“AI được định hướng sử dụng là một “trợ lý sư phạm”, không phải công cụ thay thế vì những thông tin nó đưa ra vẫn tiềm ẩn sự sai lệch. Giáo viên vẫn phải đảm nhận vai trò ra quyết định mục tiêu, nội dung, phương pháp và chịu trách nhiệm về chất lượng bài học”, ông Nguyễn Anh Tuấn cho hay.
Nuôi dưỡng tư duy độc lập của người học
Là trường học chất lượng cao, mục tiêu của Trường THCS Chu Văn An không phải dạy cho học sinh nhiều kiến thức, mà hướng trang bị khả năng tự đặt câu hỏi, tìm kiếm, kiểm chứng, kết nối tri thức và tạo ra sản phẩm của riêng mình. Công nghệ số và AI có thể giúp các em có được những kỹ năng đó bằng việc mở rộng không gian học tập.

Trường THCS Chu Văn An không phải dạy cho học sinh nhiều kiến thức, mà hướng trang bị khả năng tự đặt câu hỏi, tìm kiếm. Ảnh NTCC.
Trước kia, khi học một tác phẩm văn học, học sinh đọc văn bản và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa. Giờ đây, các em chủ động tìm hiểu bối cảnh lịch sử, xây dựng bản đồ nhân vật, so sánh cách đọc khác nhau, thiết kế podcast, video hoặc một sản phẩm trình bày số.
Trong môn Khoa học, học sinh có thể sử dụng dữ liệu, mô phỏng hoặc nhờ công cụ số hỗ trợ để đặt giả thuyết, tiến hành thử nghiệm và phân tích kết quả. Với các dự án liên môn, công nghệ đồng hành cùng các em qua một quy trình trọn vẹn, từ tiếp vấn đề thực tế, đặt câu hỏi nghiên cứu, thu thập và xử lý thông tin, đề xuất giải pháp cho đến tạo sản phẩm, trình bày và bảo vệ kết quả trước tập thể.
“Như vậy, học sinh không còn chỉ là người tiếp nhận kiến thức mà trở thành người kiến tạo tri thức”, ông Nguyễn Anh Tuấn nhận định.
Tuy nhiên, trí tuệ nhân tạo càng phát triển thì năng lực tư duy độc lập của học sinh càng trở nên quan trọng. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn phân tích, nếu học sinh chỉ hỏi AI rồi chép câu trả lời, công nghệ sẽ làm giảm, thậm chí “bắt cóc” khả năng tư duy.
Nhưng nếu các em biết đặt câu hỏi hay, yêu cầu AI đưa ra góc nhìn đa chiều, kiểm chứng câu trả lời bằng sách giáo khoa và nhiều nguồn tin cậy, sau đó tự đưa ra kết luận của mình thì AI lại trở thành một công cụ kích thích tư duy rất mạnh.
Do đó, việc cho phép học sinh sử dụng AI phải đi kèm với hướng dẫn rõ ràng, cảnh báo cần thiết và thận trọng. Cụ thể, giúp các em hiểu và phân biệt giữa dùng AI để hỗ trợ suy nghĩ khác hoàn toàn với việc giao cho AI làm thay bài tập.
Song song với đó, cần nhấn mạnh vấn đề kiểm chứng thông tin, chất lượng nội dung do AI tạo ra và vấn đề đạo đức, bản quyền, bảo mật dữ liệu để tránh sự phụ thuộc.
Nhờ vậy sẽ góp phần bảo vệ tư duy độc lập, óc sáng tạo và nuôi dưỡng ý chí học tập suốt đời để mỗi học sinh không chỉ biết sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và thông minh, mà còn nhân văn và có trách nhiệm.




