![]() |
| Giờ học thực hành của sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH |
Với Việt Nam, phát triển công nghệ chiến lược (CNCL) không chỉ là yêu cầu về kinh tế, mà còn liên quan trực tiếp đến năng lực tự chủ, an ninh và phát triển bền vững.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), trong hệ sinh thái này, trường đại học phải giữ vai trò nền tảng, là nơi hình thành tri thức, phát triển công nghệ lõi và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao.
Từ bài toán quốc gia đến sản phẩm chiến lược
- Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược, theo ông, đâu là điểm cần thay đổi trong tư duy và cách tiếp cận?
- Trong thế kỷ XXI, công nghệ đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia. Những quốc gia thành công không chỉ dừng ở việc tiếp cận, ứng dụng công nghệ mà phải từng bước kiến tạo và làm chủ những công nghệ chiến lược.
Theo tôi, một điểm rất quan trọng trong tư duy phát triển CNCL hiện nay là cần chuyển từ cách tiếp cận chỉ dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán tổng thể quốc gia. Đây là sự thay đổi về nhận thức. Công nghệ không nên xem là điểm xuất phát, mà phải là công cụ để giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.
Từ đó, chuỗi logic phát triển cần được thiết kế theo hướng: Bài toán quốc gia - sản phẩm chiến lược - công nghệ lõi - thị trường. Khi xác định được bài toán lớn của đất nước, chúng ta mới xác định được sản phẩm chiến lược cần tạo ra; từ sản phẩm đó xác định những công nghệ lõi phải làm chủ và cuối cùng là xây dựng thị trường cho sản phẩm.
Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng nghiên cứu rời rạc, mỗi nơi làm một hướng, thiếu sự kết nối giữa nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Quan trọng hơn, nó tạo ra một hệ thống trong đó nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực và sản xuất kinh doanh cùng hướng tới một mục tiêu chung.
Trong cấu trúc đó, công nghệ lõi là yếu tố trung tâm, đồng thời là thước đo quan trọng về năng lực tự chủ của quốc gia. Nếu không làm chủ được công nghệ lõi, chúng ta khó có thể chủ động tạo ra các sản phẩm chiến lược có sức cạnh tranh và đáp ứng những yêu cầu phát triển dài hạn.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức. Ảnh: Phạm Thắng
Đại học phải tạo ra công nghệ lõi
- Trong chuỗi phát triển CNCL nói trên, vai trò của các trường đại học cần được xác định như thế nào, thưa Giáo sư?
- Theo tôi, cần xác định rõ vai trò của từng chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nếu doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm và thị trường thì viện nghiên cứu, trường đại học phải là nơi tạo ra tri thức nền tảng và phát triển công nghệ lõi. Đây là sự phân công mang tính chiến lược.
Công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường nghiên cứu ngắn hạn hoặc chỉ dưới áp lực thương mại tức thời. Để tạo ra một công nghệ lõi, công nghệ cao, CNCL cần quá trình nghiên cứu dài hạn, sự tích lũy tri thức sâu và một môi trường học thuật có khả năng khuyến khích tự do sáng tạo, cạnh tranh.
Đại học, với ba chức năng nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, có điều kiện đặc biệt để đảm nhận vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn,… đều đòi hỏi nền tảng nghiên cứu khoa học cơ bản đủ mạnh và rất sâu, trước khi có thể chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.
Do đó, trường đại học cần được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển CNCL. Đại học không chỉ đào tạo nhân lực cho thị trường lao động, mà phải trở thành nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh tri thức mới và phát triển công nghệ lõi.
Đây cũng là lý do chúng ta cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, có những nhóm nghiên cứu đủ năng lực tập trung vào các lĩnh vực CNCL. Nếu đại học không mạnh về nghiên cứu, không có các nhà khoa học giỏi và các nhóm nghiên cứu mạnh thì không thể tạo ra những công nghệ lõi có khả năng cạnh tranh.
Tất nhiên, đại học không thể hoạt động tách rời doanh nghiệp và Nhà nước. Cần hình thành hệ sinh thái trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, doanh nghiệp triển khai và thương mại hóa, trường đại học và viện nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ; các nhà khoa học là lực lượng then chốt và trực tiếp tạo ra những giá trị mới về tri thức và công nghệ.

Sinh viên Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam học trong phòng học hiện đại. Ảnh: BUV
Đổi mới đào tạo và tổ chức nghiên cứu
- Để đáp ứng vai trò mới, đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học cần thay đổi ra sao?
- Trước hết, cần đổi mới chương trình đào tạo. Theo tôi, một yêu cầu có tính nền tảng là phải củng cố mạnh kiến thức khoa học cơ bản. Nền tảng STEM trong giáo dục đại học phải mạnh. Nếu không có nền tảng STEM và khoa học cơ bản đủ sâu và hiện đại thì không thể vươn tới làm chủ công nghệ lõi.
Đào tạo đại học cũng không thể chỉ dừng ở việc truyền thụ kiến thức. Người học cần được phát triển năng lực nghiên cứu, sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn. Sinh viên không chỉ học để biết mà phải học để làm, thiết kế và đổi mới, đồng thời phải hiểu và thích ứng với văn hóa, truyền thống của mỗi quốc gia.
Các chương trình đào tạo cần gắn kết chặt chẽ hơn với những bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược. Điều này không có nghĩa là đào tạo chạy theo từng công nghệ cụ thể, mà phải xây dựng nền tảng khoa học, kỹ thuật đủ sâu - làm nền tảng tri thức quốc gia - để người học có khả năng tiếp cận, làm chủ và phát triển những công nghệ mới.
Song song với đổi mới đào tạo là đổi mới tổ chức nghiên cứu. Các trường đại học cần chuyển từ những đề tài nhỏ lẻ, phân tán sang các chương trình nghiên cứu lớn, có mục tiêu rõ ràng, có tính liên ngành và gắn với bài toán quốc gia.
Cần chuyển mạnh từ nghiên cứu cá nhân sang nghiên cứu theo nhóm nghiên cứu mạnh. Một công nghệ chiến lược thường không thể là sản phẩm của một cá nhân hay một đề tài đơn lẻ, mà cần sự tham gia của nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Tôi cũng cho rằng cần có chương trình đào tạo công trình sư, tổng công trình sư tại một số trường đại học công nghệ - kỹ thuật trọng điểm. Đây là lực lượng có khả năng kết nối nhiều lĩnh vực, tổ chức và dẫn dắt những dự án công nghệ lớn. Nhà nước cũng cần đầu tư xứng đáng cho các chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn.
Đối với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi, cần đổi mới cách sử dụng và giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”. Khi được tin tưởng, giao đúng bài toán, có cơ chế phù hợp, môi trường sáng tạo và được trao quyền tự chủ cần thiết, các nhà khoa học sẽ có điều kiện phát huy tối đa năng lực sáng tạo của mình.

Bên trong phòng Lab của Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU
Cần tạo thị trường và không gian thử nghiệm
- Một trong những điểm nghẽn của nghiên cứu khoa học là đưa kết quả ra thị trường. Theo ông, cần tháo gỡ vấn đề này như thế nào?
- Theo tôi, một điểm đột phá trong chính sách phát triển CNCL là cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp trong việc tạo lập thị trường. Nhà nước không chỉ nên dừng ở việc tài trợ nghiên cứu mà có thể đóng vai trò người mua đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược. Đây là cách tiếp cận đã được nhiều quốc gia sử dụng và có ý nghĩa đặc biệt đối với những công nghệ mới, sản phẩm mới mà thị trường ban đầu chưa hình thành rõ ràng.
Khi có cơ chế đặt hàng và thị trường đầu ra phù hợp, các trường đại học có thêm động lực để xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, cần đổi mới cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo những bài toán lớn. Thay vì nhiều đề tài nhỏ, phân tán, chúng ta cần các chương trình có mục tiêu rõ ràng, có khả năng huy động nhiều nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia.
Một yếu tố khác cũng quan trọng là tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn không nên chỉ xem là bước đi sau cùng khi công nghệ và sản phẩm đã hình thành. Trong phát triển CNCL, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, của công nghệ cần được quan tâm từ sớm để định hướng công nghệ và tạo lập thị trường. Việc xây dựng các tiêu chuẩn, kể cả dưới dạng pre-standard, có thể giúp định hình hướng phát triển, tạo điều kiện cho đấu thầu, mua sắm, sản xuất hàng loạt và vươn ra thị trường quốc tế.
Các trường đại học cần tham gia tích cực hơn vào quá trình này thông qua nghiên cứu, đánh giá và so sánh quốc tế. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến khả năng hội nhập và nâng cao vị thế khoa học, công nghệ của Việt Nam.
Về cơ chế tài chính, cần tiếp tục đổi mới theo hướng tăng tính tự chủ, giảm thủ tục hành chính và tạo điều kiện để các đơn vị nghiên cứu chủ động sử dụng nguồn lực. Thay tiền kiểm thành hậu kiểm. Có thể nghiên cứu cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding”, đi kèm với trách nhiệm giải trình và hệ thống đánh giá theo các tầng: đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động.
Đặc biệt, Việt Nam rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt, hay còn gọi là sandbox, với cơ chế linh hoạt để các trường đại học và các nhà khoa học có thể thử nghiệm công nghệ mới, sản phẩm mới. Đây là điều kiện rất cần thiết để các nhà khoa học mạnh dạn nghiên cứu những lĩnh vực công nghệ cao, như UAV, vệ tinh, camera AI, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, đô thị thông minh và những công nghệ cao có liên quan đến an ninh, quốc phòng.
Cơ hội để đại học trở thành trụ cột của công nghệ chiến lược
- Từ những phân tích trên, Giáo sư kỳ vọng gì về sự chuyển đổi của các trường đại học Việt Nam trong thời gian tới?
- Tôi cho rằng các trường đại học Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để chuyển đổi và khẳng định vai trò trong chiến lược phát triển CNCL của đất nước và dẫn dắt đổi mới sáng tạo của quốc gia. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào những lĩnh vực CNCL và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Cùng với đó là đổi mới mạnh chương trình đào tạo, củng cố nền tảng khoa học cơ bản, gắn đào tạo với nghiên cứu, với doanh nghiệp và các bài toán thực tiễn.
Các trường cũng cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngay trong đại học, gồm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học. Đây là con đường để kết nối tri thức với công nghệ, công nghệ với sản phẩm và sản phẩm với thị trường.
Cần nhận thức đúng và triển khai thật hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - trường đại học. Mỗi chủ thể có một vai trò, nhưng phải cùng hướng tới mục tiêu chung là tạo ra giá trị mới cho đất nước.
Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế cũng rất quan trọng. Hợp tác không chỉ để tiếp cận tri thức và công nghệ mới, mà còn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực nghiên cứu và tăng cường tự chủ đại học. Khi được trao quyền tự chủ phù hợp, các trường có thể huy động và phát huy nhanh hơn các nguồn lực cho đổi mới sáng tạo.
Tôi cho rằng phát triển CNCL không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành khoa học và công nghệ, mà là một chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong chiến lược đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối; doanh nghiệp giữ vai trò triển khai, sản xuất và thương mại hóa; trường đại học và viện nghiên cứu là nơi tạo ra tri thức, công nghệ lõi và nguồn nhân lực chất lượng cao; còn các nhà khoa học giữ vai trò then chốt trong hệ sinh thái sáng tạo tri thức và công nghệ.
Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ công trình sư, tổng công trình sư thì khó có thể hình thành công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi thì khó tạo ra sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược thì năng lực tự chủ, tự cường của quốc gia sẽ bị hạn chế.
- Xin trân trọng cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Đình Đức!
“Việt Nam đang đứng trước cơ hội để tạo ra những bước phát triển mới. Điều quan trọng là phải hành động đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình: không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh tri thức và công nghệ lõi, qua đó trở thành một trong những trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia”. - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức




