Nhân dịp kỷ niệm 31 năm Việt Nam gia nhập ASEAN (28/7/1995 - 28/7/2026) và hướng tới kỷ niệm 67 năm thành lập ASEAN (8/8/1967 - 8/8/2026), phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với GS. TS Hoàng Đức Thân, nguyên Viện trưởng Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), về những giá trị nền tảng mà ASEAN mang lại đối với tiến trình hội nhập của Việt Nam, cũng như các yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

GS. TS. NGND Hoàng Đức Thân, nguyên Viện trưởng Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) trả lời phỏng vấn của Báo Công Thương.
Bệ phóng đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng
- Sau 31 năm gia nhập ASEAN, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN đã tăng từ khoảng 3,26 tỷ USD năm 1995 lên khoảng 91 tỷ USD năm 2025, tức gần 30 lần. Theo ông, đằng sau sự tăng trưởng ấn tượng này, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến mang tính cấu trúc như thế nào và giá trị lớn nhất mà tiến trình hội nhập ASEAN mang lại là gì?
GS. TS Hoàng Đức Thân: Gia nhập ASEAN năm 1995 là bước ngoặt lịch sử, mở ra kỷ nguyên hội nhập của Việt Nam. Trong hành trình đồng hành cùng các quốc gia Đông Nam Á, dù tham gia muộn hơn nhiều nước thành viên và khởi đầu từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã không ngừng đổi mới, hội nhập trên cả ba lĩnh vực kinh tế, chính trị và đối ngoại, từng bước khẳng định vai trò, vị thế trong ASEAN cũng như khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Đằng sau sự tăng trưởng gần 30 lần của kim ngạch thương mại Việt Nam - ASEAN không chỉ là sự mở rộng về quy mô trao đổi hàng hóa, mà còn phản ánh những chuyển biến mang tính cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam. Từ một nền kinh tế có độ mở còn hạn chế, Việt Nam từng bước mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế.
Theo tôi, giá trị lớn nhất và mang tính nền tảng nhất mà tiến trình hội nhập ASEAN mang lại là góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đưa Việt Nam thoát khỏi thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Những giá trị đó được thể hiện trên ba phương diện chủ yếu.
Trước hết, về chính trị - an ninh, việc gia nhập ASEAN là bước đột phá chiến lược, góp phần chấm dứt giai đoạn đối đầu, phá vỡ thế cô lập và mở đường để Việt Nam hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Thông qua các cơ chế hợp tác của ASEAN, Việt Nam cùng các nước thành viên xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, tăng cường hợp tác, bảo vệ chủ quyền quốc gia và thúc đẩy giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình. Nền tảng đó cũng giúp Việt Nam có tiếng nói ngày càng có trọng lượng trong xử lý các vấn đề khu vực như Biển Đông, biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước sông Mekong, phòng, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia.
Về kinh tế, ASEAN trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thông qua ASEAN, Việt Nam có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn, công nghệ và phương thức quản trị hiện đại, qua đó tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu, tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Về đối ngoại, hội nhập ASEAN đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ một thành viên mới, Việt Nam từng bước trở thành một trong những quốc gia có nhiều đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển của ASEAN, nhiều lần đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN vào các năm 1998, 2010 và 2020, đồng thời đề xuất nhiều sáng kiến được các nước thành viên ghi nhận. Có thể nói, ASEAN chính là bệ phóng quan trọng, tạo nền tảng để Việt Nam chủ động, tích cực và tự tin hội nhập quốc tế ở tầm mức sâu rộng hơn.

Thủ tướng Lê Minh Hưng cùng Trưởng đoàn các nước ASEAN tham dự phiên khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 (tháng 5/2026). Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Nền tảng hình thành năng lực hội nhập quốc tế
- Trong hơn 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã lần lượt tham gia AFTA, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các FTA do ASEAN dẫn dắt như RCEP. Theo ông, những cơ chế này đã góp phần định hình năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như thế nào?
GS. TS Hoàng Đức Thân: ASEAN là nền tảng chiến lược và cũng là bước đệm quan trọng giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, từng bước định hình năng lực hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện chính sách phát triển đất nước. Trong hơn ba thập kỷ qua, Việt Nam luôn chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác của ASEAN và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Trước hết, việc tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) cùng các hiệp định như AFTA, ATIGA, ACIA và RCEP đã góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng thương mại, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế phát triển năng động của khu vực.
Không chỉ vậy, Việt Nam còn từng bước khẳng định vai trò kiến tạo và dẫn dắt trong ASEAN, cùng các nước thành viên vượt qua nhiều thách thức như suy thoái kinh tế, đại dịch Covid-19, duy trì sự gắn kết của Hiệp hội và thúc đẩy việc ký kết, triển khai Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Việt Nam cũng đóng vai trò cầu nối trong việc thúc đẩy quan hệ giữa ASEAN với các đối tác lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU).
Bên cạnh đó, Việt Nam tích cực thúc đẩy thực hiện các nguyên tắc của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đồng thời góp phần thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), qua đó đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, Việt Nam cũng cùng các nước thành viên thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân, lấy người dân làm trung tâm, tăng cường giao lưu nhân dân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Từ thực tiễn đó, ASEAN đã góp phần hình thành năng lực hội nhập quốc tế của Việt Nam trên nhiều phương diện. Trước hết, ASEAN là môi trường thực hành quan trọng để Việt Nam làm quen với các quy tắc thương mại quốc tế, phương thức đàm phán và cơ chế hợp tác đa phương trước khi tham gia các sân chơi lớn hơn như WTO hay các FTA thế hệ mới.
Thông qua các khuôn khổ ASEAN+ và RCEP, Việt Nam cũng mở rộng đáng kể mạng lưới đối tác, tiếp cận nhiều thị trường có trình độ phát triển cao, dòng vốn FDI chất lượng và công nghệ hiện đại. Đây cũng là quá trình giúp Việt Nam tích lũy kinh nghiệm tiếp cận các thị trường có tiêu chuẩn cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đồng thời, việc thực hiện các cam kết trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã thúc đẩy Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thể chế kinh tế, xây dựng các tiêu chuẩn về hàng hóa và dịch vụ theo hướng tương thích với thông lệ quốc tế, qua đó tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quan trọng hơn, việc tham gia và hoàn thành tốt các vai trò trong ASEAN đã góp phần nâng cao uy tín, vị thế và năng lực điều hành của Việt Nam, tạo nền tảng để đất nước đảm nhận những trọng trách lớn hơn trong các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế.
Hướng tới giai đoạn hội nhập chất lượng cao
- Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 46 (tháng 5/2025), các nhà lãnh đạo đã thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, trong đó nhấn mạnh kinh tế số, tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và chuỗi cung ứng bền vững. Theo ông, những ưu tiên này đặt ra yêu cầu gì đối với Việt Nam trong việc chuyển từ mở rộng quy mô hội nhập sang nâng cao chất lượng và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế?
GS. TS Hoàng Đức Thân: Trong bối cảnh mới, việc đánh giá hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế cần chuyển trọng tâm từ kết quả sang hiệu quả, từ lượng sang chất. Nếu trước đây, hội nhập chủ yếu được đo bằng quy mô thương mại, kim ngạch xuất nhập khẩu hay khả năng thu hút đầu tư, thì hiện nay cần đánh giá toàn diện hơn trên các tiêu chí về chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ của nền kinh tế, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển xanh, chuyển đổi số và tính bao trùm.
Trước hết, về hiệu quả kinh tế vĩ mô và thương mại - đầu tư, tiêu chí quan trọng không còn chỉ là mở rộng quy mô thị trường mà còn là khả năng đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống để nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài. Bên cạnh đó, chất lượng dòng vốn FDI cần được đặt lên hàng đầu, ưu tiên thu hút các dự án trong lĩnh vực công nghệ lõi, năng lượng tái tạo và công nghiệp bán dẫn thay vì chỉ dựa vào các ngành gia công có giá trị gia tăng thấp. Đồng thời, cần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước thông qua việc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, hội nhập trong giai đoạn mới phải gắn với việc thực hiện các cam kết về môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và áp dụng các tiêu chuẩn ESG nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường lớn. Cùng với đó, cần chú trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào GDP, mở rộng thương mại điện tử xuyên biên giới và nâng cao năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Một tiêu chí quan trọng khác là năng lực nội sinh của nền kinh tế, thể hiện ở khả năng thích ứng và chống chịu trước các cú sốc từ đứt gãy chuỗi cung ứng hay biến động địa chính trị.
Bên cạnh các tiêu chí kinh tế, chất lượng hội nhập còn được phản ánh qua mức độ hoàn thiện thể chế và phát triển xã hội. Điều đó đòi hỏi tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và bảo đảm hệ thống pháp luật trong nước tương thích với các cam kết quốc tế.
Đồng thời, hội nhập phải hướng tới phát triển bao trùm, tạo việc làm có chất lượng, nâng cao thu nhập cho người lao động, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo vệ các nhóm yếu thế.
- Xin cảm ơn ông!
Theo GS. TS Hoàng Đức Thân, trong mọi hoàn cảnh, hội nhập cần gắn với yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.


