A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Dòng vốn ưu đãi đổ vào nông nghiệp: Bơm đúng mạch, tạo lực cho tăng trưởng

Khi lãi suất cho vay nông nghiệp được kéo xuống, hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng được thiết kế theo từng ngành hàng và chuỗi giá trị, tác động của dòng vốn không còn dừng ở chuyện giảm chi phí đầu vào cho nông dân. Vốn đang trở thành “mạch máu” kết nối vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và thị trường, qua đó mở thêm dư địa để các địa phương hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Khi lãi suất cho vay nông nghiệp được kéo xuống, hàng chục nghìn tỷ đồng tín dụng được thiết kế theo từng ngành hàng và chuỗi giá trị, tác động của dòng vốn không còn dừng ở chuyện giảm chi phí đầu vào cho nông dân. Vốn đang trở thành “mạch máu” kết nối vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và thị trường, qua đó mở thêm dư địa để các địa phương hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Vốn rẻ đang tìm đến những “địa chỉ” tạo tăng trưởng

Năm 2026, bài toán tăng trưởng không còn là “có vốn hay không”, mà ngày càng trở thành câu chuyện dòng vốn có đến đúng nơi tạo ra giá trị gia tăng hay không. Với nông nghiệp, câu hỏi này càng có ý nghĩa khi khu vực sản xuất đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tư duy sản xuất đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp, từ bán nguyên liệu sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và chinh phục các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Ngay trong tháng 8, nhiều ngân hàng đồng loạt tung các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho nông nghiệp, nông thôn, thủy sản, lâm sản, cơ giới hóa và xuất khẩu nông sản. Đây là sự cụ thể hóa định hướng điều hành tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất ưu tiên.

Ví như Agribank tiếp tục đóng vai trò ngân hàng chủ lực với hàng loạt chương trình quy mô lớn. Đáng chú ý, gói tín dụng chuỗi giá trị thủy sản 5.000 tỷ đồng triển khai từ tháng 8 đến hết năm 2026 có lãi suất cho vay ngắn hạn từ 5,6%/năm, trung và dài hạn cố định giai đoạn đầu từ 7%/năm. Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp có lãi suất ngắn hạn từ 5,6 - 5,8%/năm, tài trợ tới 100% nhu cầu vốn.

Không đứng ngoài cuộc, Vietcombank, BIDV, VietinBank cũng triển khai tín dụng cho nông nghiệp sạch, công nghệ cao và xuất khẩu nông sản, với lãi suất ngắn hạn khoảng 4,8 - 5,8%/năm đối với hộ nông dân, hợp tác xã; trung và dài hạn khoảng 7 -7,8%/năm. Trong khối ngân hàng thương mại cổ phần, HDBank dành 4.000 tỷ đồng cho lâm sản và thủy sản; NamABank, Sacombank đẩy mạnh tín dụng xanh, nông nghiệp công nghệ cao và hộ kinh doanh nông sản.

Điểm đáng chú ý không nằm ở việc ngân hàng “hạ lãi suất” đơn thuần. Điều quan trọng hơn là cách thiết kế dòng vốn đang thay đổi. Đối tượng thụ hưởng ngày càng mở rộng từ hộ nông dân trồng lúa, cây ăn trái, nuôi tôm, cá tra đến HTX, doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu. Tín dụng vì thế bắt đầu đi theo chuỗi, thay vì chỉ dừng tại một hộ vay riêng lẻ.

Đây chính là điểm có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với tăng trưởng. Theo số liệu báo cáo của ngành chức năng, tổng dư nợ tại ĐBSCL đã vượt 1,2 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng nông nghiệp - nông thôn chiếm khoảng 45 - 50%, tương đương 540.000 - 600.000 tỷ đồng. Tín dụng phục vụ xuất khẩu đạt khoảng 180.000 - 220.000 tỷ đồng và tăng 12 - 15%/năm.

Những con số này cho thấy nông nghiệp không còn đứng bên lề của câu chuyện tín dụng. Ngược lại, nông nghiệp đang trở thành một trong những “địa chỉ hấp thụ vốn” quan trọng của nền kinh tế thực.

co-gioi-hoa-san-xuat-nong-nghiep..jpg

Ảnh minh họa

Từ đồng vốn ngân hàng đến kim ngạch xuất khẩu

Hiệu quả của dòng vốn ưu đãi chỉ thực sự được kiểm chứng khi nó đi vào sản xuất và quay trở lại nền kinh tế bằng doanh thu, việc làm, thu nhập và ngoại tệ.

Câu chuyện bưởi da xanh tại tỉnh Vĩnh Long là một ví dụ. Công ty TNHH Hoa quả Viên có nhu cầu xuất khẩu lớn nhưng lượng thu mua thực tế mới đạt 9 - 10 tấn/ngày, trong khi kế hoạch cần 25 - 30 tấn/ngày. Doanh nghiệp phải trực tiếp xuống vùng nguyên liệu, hỗ trợ nông dân hoàn thiện hồ sơ mã số vùng trồng, phân bón và kiểm soát chất lượng.

Ở đây, vốn chỉ là một mắt xích, nếu thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, thiếu vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thiếu logistics và truy xuất nguồn gốc, tiền rẻ cũng khó biến thành giá trị xuất khẩu.

Nhưng khi tín dụng được đặt vào một chuỗi đã có đầu ra, hiệu ứng lại hoàn toàn khác. 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt khoảng 5,87 tỷ USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ. Riêng sầu riêng 7 tháng đạt khoảng 1,77 tỷ USD, tăng 47,1%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất với hơn 2,8 tỷ USD kim ngạch rau quả trong 7 tháng, tăng 33,1%.

Trong khi đó, ngành nông, lâm, thủy sản cũng đang cho thấy khả năng đóng góp ngày càng rõ vào tăng trưởng. Theo số liệu Chính phủ công bố, 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%; riêng nông nghiệp tăng 3,57%, lâm nghiệp tăng 3,98% và thủy sản tăng 4,88%.

Nếu nhìn từ mục tiêu tăng trưởng tổng thể, đây là một tín hiệu quan trọng nông nghiệp có thể không phải khu vực tăng trưởng nhanh nhất, nhưng lại có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa rất lớn khi được kết nối với công nghiệp chế biến, logistics, thương mại và xuất khẩu.

Từ “cho vay” sang tài trợ cả chuỗi giá trị: Đây cũng là điểm mà chính sách tín dụng cần đi xa hơn. Thực tế, tín dụng nông nghiệp vẫn đối mặt với những điểm nghẽn tài sản bảo đảm hạn chế, sản xuất nhỏ lẻ, rủi ro thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và thiếu minh bạch dữ liệu.

Thực tế cho thấy hơn 60% tín dụng vẫn tập trung vào lúa gạo và thủy sản tươi, trong khi tín dụng dành cho nông nghiệp công nghệ cao và chế biến gia tăng giá trị mới khoảng 10 - 12%, đây chính là “điểm nghẽn” cần được nhìn thấu đáo.

Nếu tiếp tục dùng tín dụng chủ yếu để tài trợ vốn lưu động ngắn hạn, nền nông nghiệp có thể tăng sản lượng nhưng khó tạo bước nhảy về năng suất và giá trị gia tăng. Ngược lại, nếu ngân hàng chuyển sang tín dụng dựa trên dòng tiền, hợp đồng bao tiêu và sức khỏe của cả chuỗi, một hộ nông dân không còn bị đánh giá đơn độc bằng tài sản thế chấp.

Trong mô hình tín dụng chuỗi giá trị của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, doanh nghiệp đầu chuỗi ký hợp đồng bao tiêu với HTX; ngân hàng thẩm định doanh nghiệp và hợp đồng xuất khẩu để cấp hạn mức cho toàn chuỗi, sau đó phân bổ vốn cho doanh nghiệp, HTX và nông dân. Dòng tiền thanh toán sau thu hoạch được đưa qua tài khoản ngân hàng để kiểm soát và thu hồi nợ. Đây là bước chuyển quan trọng từ cho vay một chủ thể sang tài trợ một hệ sinh thái sản xuất.

Tăng trưởng hai con số - không thể chỉ trông vào “bơm vốn”

Chính phủ đã đặt mục tiêu năm 2026 phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên; đồng thời yêu cầu chính sách tiền tệ ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Nghị quyết 01/NQ-CP cũng xác định năm 2026 là năm đầu triển khai kế hoạch 2026 -2030, phấn đấu tăng trưởng hai con số, đồng thời yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa tích hợp đa giá trị, hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Như vậy, yêu cầu đặt ra cho tín dụng nông nghiệp không phải là “bơm càng nhiều càng tốt”, mà là bơm đúng, bơm đủ và kiểm soát được dòng tiền. Đó cũng là lý do tín dụng xanh, tín dụng chuỗi giá trị và tài trợ dựa trên dữ liệu cần trở thành hướng đi chủ đạo.

ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 nêu quan điểm: Để nông nghiệp thực sự trở thành động lực tăng trưởng, chính sách tín dụng phải chuyển từ mục tiêu “giảm lãi suất” sang mục tiêu “tăng giá trị tạo ra trên mỗi đồng vốn”.

Dòng vốn ưu đãi cần ưu tiên những chuỗi có khả năng tạo giá trị gia tăng cao vùng nguyên liệu đạt chuẩn, chế biến sâu, logistics lạnh, truy xuất nguồn gốc, công nghệ cao và xuất khẩu. Khi doanh nghiệp đầu chuỗi có hợp đồng đầu ra, HTX có phương án sản xuất và ngân hàng kiểm soát được dòng tiền, rủi ro tín dụng sẽ giảm, đồng thời khả năng hấp thụ vốn của khu vực nông nghiệp tăng lên.

Đặc biệt, với ĐBSCL, tín dụng cần gắn với chuyển đổi xanh, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp và các mô hình thích ứng biến đổi khí hậu. Khi một đồng vốn vừa tạo ra sản phẩm, vừa giảm chi phí, giảm phát thải và nâng giá trị xuất khẩu, đó mới là đòn bẩy tăng trưởng thực chất.

Nghị quyết 85/NQ-CP về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng đặt trọng tâm vào phát triển hạ tầng chuỗi cung ứng lạnh, bảo quản, chế biến và huy động nguồn lực phục vụ tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.

Điều đó cho thấy tín dụng ngân hàng chỉ phát huy tối đa tác dụng khi đi cùng đầu tư công, hạ tầng logistics, thương mại, bảo hiểm nông nghiệp và thị trường xuất khẩu. Bài toán của những tháng cuối năm vì thế không đơn giản là giải ngân thêm bao nhiêu nghìn tỷ đồng.

Câu hỏi lớn hơn là bao nhiêu trong số đó đi vào vùng nguyên liệu; bao nhiêu tạo ra nhà máy chế biến sâu; bao nhiêu giúp HTX chuyển đổi số; bao nhiêu hình thành chuỗi xuất khẩu; và cuối cùng, bao nhiêu đồng vốn tạo ra thêm một đồng giá trị gia tăng cho nền kinh tế?

Khi tín dụng được thiết kế theo chuỗi, kiểm soát bằng dữ liệu, bảo đảm bằng dòng tiền và gắn với thị trường đầu ra, vốn ưu đãi sẽ không còn là chính sách hỗ trợ mang tính ngắn hạn. Nó trở thành lực kéo tái cấu trúc nền nông nghiệp. Và khi dòng vốn từ ngân hàng chảy liền mạch từ giống, vật tư, sản xuất đến chế biến, logistics và xuất khẩu, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ có thêm một nền tảng quan trọng: tăng trưởng được tạo ra từ năng lực sản xuất thực, chứ không chỉ từ kỳ vọng.

Thích 1111

Các tin khác

Tin nổi bật