Thứ tư, 04/03/2026 - 06:07

Đổi mới quản trị giáo dục theo hướng linh hoạt

Theo các chuyên gia, đổi mới quản trị giáo dục theo hướng linh hoạt là yêu cầu chiến lược, góp phần hiện thực hóa các chủ trương theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội.
Sinh viên Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội.

1. TS Phạm Đỗ Nhật Tiến - nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: Quản trị linh hoạt, cách tiếp cận mới trong phát triển đội ngũ nhà giáo

doi-moi-quan-tri-giao-duc-2.jpg

TS Phạm Đỗ Nhật Tiến.

Một trong những quan điểm cốt lõi của Nghị quyết 71 là khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc”. Quan điểm này đặt ra yêu cầu mang tính thời đại: Giáo dục phải sẵn sàng cho tương lai. Trên phạm vi toàn cầu, các hệ thống giáo dục đang chịu áp lực ngày càng lớn từ sự thay đổi nhanh chóng của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và thị trường lao động.

Điều đó đòi hỏi giáo dục không chỉ truyền thụ kiến thức, mà còn phải trang bị cho người học những kỹ năng, phẩm chất và năng lực thích ứng, để có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu mới không ngừng gia tăng.

Trong bối cảnh đó, quản trị linh hoạt được đưa vào giáo dục như một cách tiếp cận nhằm nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống. Trước hết, điều này đòi hỏi tư duy và quy trình mới trong phát triển chương trình giáo dục, với những đặc trưng như: Nội dung học tập năng động; phương pháp sư phạm linh hoạt; sự tham gia của nhiều bên liên quan trong phát triển chương trình; đội ngũ có năng lực cải tiến liên tục và cơ cấu nhà trường đủ linh hoạt để phản ứng nhanh trước thay đổi.

Không chỉ dừng ở chương trình, quản trị linh hoạt còn cho thấy hiệu quả rõ nét trong phát triển nghề nghiệp nhà giáo. Thông qua các vòng lặp thử nghiệm – phản hồi – điều chỉnh, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn lớp học và hoạt động chuyên môn, cách tiếp cận này giúp nâng cao chất lượng bồi dưỡng, tăng cường trải nghiệm học tập cá nhân hóa, tạo điều kiện để nhà giáo chủ động phát triển năng lực và phản hồi kịp thời với nhu cầu thực tế.

Bằng việc thúc đẩy văn hóa tin tưởng, chia sẻ lãnh đạo và trao quyền tự chủ, quản trị linh hoạt mở ra không gian để nhà giáo đi đầu trong đổi mới sáng tạo, đồng thời đóng góp hiệu quả vào các mục tiêu phát triển chung của nhà trường.

Tại Việt Nam, việc xây dựng Luật Nhà giáo với tinh thần kiến tạo phát triển đã tạo tiền đề quan trọng cho việc vận dụng phương pháp luận quản trị linh hoạt trong xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, đây là quá trình không tránh khỏi những rào cản và thách thức. Để triển khai hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ.

Thứ nhất, trong giáo dục phổ thông, cần trang bị cho giáo viên kiến thức và kỹ năng cần thiết để áp dụng các công cụ, phương pháp quản trị linh hoạt. Qua đó triển khai hiệu quả mục tiêu xây dựng trường học hạnh phúc, đặc biệt trong thực hiện Đề án phát triển Chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.

Thứ hai, trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, cần tăng cường tinh thần hợp tác, làm việc nhóm trong đội ngũ nhà giáo; vận dụng quản trị linh hoạt để chủ động đổi mới chương trình đào tạo theo hướng cải tiến liên tục, đáp ứng các yêu cầu mới về kỹ năng của người học và thị trường lao động.

Thứ ba, cần đẩy mạnh quyền tự chủ nghề nghiệp của nhà giáo, phát huy vai trò lãnh đạo của nhà giáo trong quản trị nhà trường, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc trao quyền cho nhà giáo tổ chức, dẫn dắt các nhóm chuyên môn triển khai vòng lặp phản hồi trong đổi mới chương trình, tích hợp công nghệ giáo dục và ứng dụng AI trong cá thể hóa giáo dục là hết sức cần thiết.

Thứ tư, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo theo mô hình phát triển nghề nghiệp linh hoạt. Theo đó, đào tạo ban đầu cần chú trọng trang bị năng lực thích ứng với thay đổi trong xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình; bồi dưỡng thường xuyên cần được thiết kế theo các vòng lặp phản hồi, thúc đẩy văn hóa học tập liên tục và đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân của nhà giáo.

Việc áp dụng quản trị linh hoạt trong phát triển đội ngũ nhà giáo mang lại một cách tiếp cận có tính chuyển đổi, góp phần giải quyết những thách thức của giáo dục trong bối cảnh biến động nhanh chóng. Không chỉ là lựa chọn kỹ thuật, đổi mới quản trị theo hướng linh hoạt còn là đổi mới chiến lược về tư duy, nhận thức và hành động, nhằm triển khai hiệu quả các chủ trương đột phá phát triển giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị.

2. GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam: Bước chuyển tư duy từ “đổi mới” sang “phát triển đột phá”

doi-moi-quan-tri-giao-duc-3.jpg

GS.TS Lê Anh Vinh.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, Đảng ta xác định giáo dục và đào tạo cùng khoa học và công nghệ là hai trụ cột của phát triển bền vững, giữ vai trò đột phá chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Kế thừa tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đây là dấu mốc quan trọng, thể hiện bước chuyển tư duy từ “đổi mới” sang “phát triển đột phá”, đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia trong bối cảnh mới.

Theo tinh thần Nghị quyết 71, những yêu cầu chiến lược mang tính nền tảng cho phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn tới được xác định rõ nét trên nhiều phương diện. Trước hết, giáo dục và đào tạo phải trở thành “hạ tầng mềm” của quốc gia, giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt cho các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh.

Định hướng này gắn chặt với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW (năm 2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó tri thức và sáng tạo được coi là động lực tăng trưởng bền vững.

Thứ hai, giáo dục phải trở thành động lực của công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân, không phân biệt điều kiện kinh tế, vùng miền hay hoàn cảnh sống, đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng. Chủ trương miễn học phí đến hết THPT công lập từ năm học 2025 – 2026, đồng thời hỗ trợ học sinh ngoài công lập thể hiện bước tiến quan trọng trong bảo đảm bình đẳng tiếp cận giáo dục. Đây không chỉ là chính sách an sinh, mà còn là giải pháp chiến lược nhằm hướng tới mục tiêu phổ cập trung học phổ thông, nâng cao trình độ học vấn và số năm đi học bình quân của người dân.

Thứ ba, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được xác định là lực lượng nòng cốt của đổi mới. Luật Nhà giáo, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, lần đầu tiên xác lập đầy đủ vị thế pháp lý, chế độ đãi ngộ và khung năng lực nghề nghiệp cho nhà giáo, khẳng định quan điểm “nhà giáo là trung tâm của hệ thống giáo dục”. Đây là bước thể chế hóa quan trọng, thể hiện rõ tư duy phát triển lấy con người làm gốc.

Thứ tư, toàn bộ hệ thống quản trị giáo dục cần được chuyển đổi theo hướng kiến tạo, dựa trên dữ liệu, lấy kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình làm thước đo hiệu quả. Việc triển khai Bộ chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số ngành Giáo dục theo Quyết định số 3806/QĐ-BGDĐT (năm 2024) không chỉ là công cụ giám sát mà còn góp phần minh bạch hóa quản trị, phù hợp với Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg (năm 2020).

Những định hướng nêu trên vừa phản ánh yêu cầu hiện đại hóa giáo dục, vừa là tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên tri thức. Các chủ trương, chính sách mới tiếp tục khẳng định giáo dục không chỉ là lĩnh vực ưu tiên đầu tư, mà còn là động lực phát triển đất nước và chìa khóa hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI. Đổi mới và phát triển giáo dục vì thế không còn là nhiệm vụ riêng của ngành, mà là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn hệ thống chính trị.

3. TS Nguyễn Tùng Lâm - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam: Kiến tạo, dẫn dắt phát triển giáo dục

doi-moi-quan-tri-giao-duc-4.jpg

TS Nguyễn Tùng Lâm.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, ngành Giáo dục và Đào tạo đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy và hành động, chuyển mạnh từ cách tiếp cận cải cách, chỉnh sửa sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt sự phát triển của nền giáo dục quốc dân.

Tư duy cải cách theo hướng chỉnh sửa chủ yếu là điều chỉnh từng phần, khắc phục những hạn chế, bất cập của hệ thống hiện có thông qua các biện pháp “vá víu” hoặc cập nhật cục bộ. Cách làm này có thể giải quyết những vấn đề trước mắt, nhưng khó tạo ra đột phá và không đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh thời đại số, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong khi đó, tư duy kiến tạo, dẫn dắt phát triển giáo dục là cách tiếp cận chủ động, mang tính chiến lược, hướng tới việc thiết kế và xây dựng một hệ thống giáo dục mới, hiện đại, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế toàn cầu. Đây không chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật quản lý, mà là sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của toàn ngành.

Về ý nghĩa thực tiễn, tư duy kiến tạo đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo phải chuyển từ cách quản lý hành chính, sự vụ sang tư duy chiến lược, sáng tạo và mở đường. Thay vì phản ứng bị động trước các vấn đề phát sinh, giáo dục cần chủ động định hướng, dẫn dắt và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài của quốc gia thông qua đào tạo con người.

Nói một cách khái quát, chuyển từ “cải cách” sang “kiến tạo” là chuyển từ việc sửa chữa những khiếm khuyết của quá khứ sang việc kiến tạo tương lai. Chuyển từ “chỉnh sửa” sang “dẫn dắt” là chuyển từ bị động thích ứng sang chủ động định hướng phát triển đất nước bằng giáo dục.

Tinh thần này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, đồng thời phù hợp với yêu cầu đổi mới phân cấp, phân quyền quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Những chủ trương mới đã khẳng định cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập, đặc biệt ở cấp cơ sở như xã, phường, trong tổng thể hệ thống giáo dục quốc dân.

Trên cơ sở đó, mô hình quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập được định hình theo hướng tự chủ – dân chủ – nhân văn – sáng tạo – hội nhập. Thực tiễn cho thấy, khi được trao quyền phù hợp và thực hiện đầy đủ các điều kiện của mô hình quản lý mới, các cơ sở giáo dục có nhiều thuận lợi để phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.

“Việc đổi mới cơ chế và nội dung quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập vì vậy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật quản lý, mà là giải pháp thiết thực để hiện thực hóa yêu cầu đổi mới tư duy, đổi mới hành động, chuyển mạnh từ tư duy chỉnh sửa sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt phát triển giáo dục, đúng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm”. - TS Nguyễn Tùng Lâm

Nguồn:giaoducthoidai.vn Sao chép liên kết
Tin liên quan