Thứ ba, 03/03/2026 - 16:30

Gạo phát thải thấp: 'Tấm vé xanh' cho xuất khẩu bền vững

Phát triển gạo giảm phát thải không làm thay đổi chất lượng hạt gạo, nhưng tạo lợi thế thương mại, nâng hình ảnh quốc gia và mở thêm dư địa cho xuất khẩu bền vững.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Giảm phát thải là chiến lược dài hạn để giữ thị trường xuất khẩu

- Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng, triển khai mô hình lúa giảm phát thải ở những vùng có diện tích manh mún như đồng bằng sông Hồng sẽ khó khả thi. Ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?

Ông Lê Thanh Tùng: Thực tế, diện tích ruộng nhỏ lẻ không phải là rào cản quá lớn về mặt kỹ thuật. Các công nghệ, máy móc hiện nay hoàn toàn có thể vận hành linh hoạt giữa các thửa ruộng. Ranh giới bờ thửa không còn là giới hạn như trước.

Dự báo sản lượng

Dự báo sản lượng "gạo Việt xanh, phát thải thấp" có thể tăng gấp đôi so với trước, đạt khoảng 150.000 tấn trong năm 2026. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Vấn đề quan trọng hơn nằm ở tư duy canh tác. Ở những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nông dân thường quan tâm nhiều hơn đến giải pháp kỹ thuật mới vì chúng giúp giảm chi phí, tăng năng suất hoặc đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn môi trường. Khi sản xuất hướng mạnh ra thị trường, đặc biệt là xuất khẩu, động lực đổi mới sẽ lớn hơn rất nhiều.

Chiến lược lúa gạo Việt Nam trong bối cảnh giảm diện tích canh tác xuống dưới 3,6 triệu ha nhưng vẫn phải đảm bảo an ninh lương thực và ổn định sản lượng buộc chúng ta phải nâng cao hiệu quả trên từng hecta. Giảm phát thải không chỉ là cam kết môi trường mà còn là yêu cầu để duy trì vị thế trên thị trường xuất khẩu.

- Với Đồng bằng sông Hồng, cụ thể như Ninh Bình, Hải Phòng hay Hưng Yên, kỳ vọng lớn nhất khi triển khai mô hình lúa giảm phát thải là gì, thưa ông?

Ông Lê Thanh Tùng: Kỳ vọng lớn nhất là thay đổi phương pháp canh tác, giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hiệu quả hơn và áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ. Ba yếu tố này vừa giúp giảm phát thải khí nhà kính, vừa tối ưu chi phí sản xuất.

Ở Đồng bằng sông Hồng, hệ thống thủy lợi chủ động là lợi thế lớn để áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước. Khi thực hiện đồng bộ, hiệu quả giảm phát thải sẽ rất rõ rệt. Nhưng quan trọng hơn, đây là bước chuẩn bị để hạt gạo Việt Nam đáp ứng các tiêu chí xanh mà thị trường nhập khẩu gạo ngày càng yêu cầu khắt khe.

- Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia tiên phong trong phát triển lúa gạo giảm phát thải quy mô lớn. Ông đánh giá thế nào về ý kiến này?

Ông Lê Thanh Tùng: Nhận định đó là có cơ sở. Việt Nam triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, giảm phát thải với quy mô lớn, mang tính toàn quốc. Ở nhiều nước khác, quy mô mới chỉ vài nghìn đến vài trăm nghìn hecta.

Điều quan trọng là giảm phát thải không còn là một dự án đơn lẻ mà đã trở thành định hướng chiến lược của ngành lúa gạo, gắn với cam kết trung hòa carbon và phát triển bền vững. Đây chính là nền tảng để bảo vệ và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo trong dài hạn.

- Việc xây dựng thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” có ý nghĩa như thế nào đối với thương mại và xuất khẩu?

Ông Lê Thanh Tùng:Tất cả diện tích tham gia Đề án nếu đạt tiêu chuẩn sẽ được cấp nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”. Đây là sản phẩm cuối cùng của chuỗi canh tác giảm phát thải.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA). Ảnh: Anh Thơ

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA). Ảnh: Anh Thơ

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh phương pháp canh tác giảm phát thải không làm hạt gạo ngon hơn hay thay đổi bản chất chất lượng. Giá trị gia tăng nằm ở yếu tố trách nhiệm môi trường và xã hội. Người tiêu dùng mua sản phẩm vì họ chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng và tương lai, chứ không phải vì hạt gạo có sự khác biệt cảm quan.

Chính vì vậy, để thương hiệu này có sức sống, gạo giảm phát thải phải đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật… Khi tích hợp đầy đủ các yếu tố đó, thương hiệu quốc gia về gạo sẽ được nâng tầm.

- Về xuất khẩu, hiện thị trường đã sẵn sàng trả giá cao hơn cho gạo giảm phát thải chưa, thưa ông?

Ông Lê Thanh Tùng: Hiện chưa nhiều thị trường thực sự nhận thức rõ và chủ động tìm mua gạo phát thải thấp. Châu Âu và một số nước Trung Đông có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến yếu tố môi trường.

Thời gian qua, lô hàng gạo Việt xanh đầu tiên đã xuất sang Nhật Bản, một thị trường khó tính. Có thời điểm doanh nghiệp xuất khẩu đạt mức giá khoảng 800 USD/tấn, trong khi giá bình quân chung chỉ dưới 500 USD/tấn. Dĩ nhiên, mức giá còn phụ thuộc vào giống lúa và chất lượng tổng thể.

Giá cao hay không còn tùy vào nhận thức của người mua. Nhưng rõ ràng, khi thế giới siết chặt tiêu chuẩn xanh, nếu không đi trước, chúng ta có thể mất thị phần.

Kỳ vọng mở rộng quy mô và nâng giá trị hạt gạo

- Năm 2026, sản lượng "gạo Việt xanh, phát thải thấp" có thể tăng đến mức nào, thưa ông?

Ông Lê Thanh Tùng:Rất khó dự báo chính xác vì việc cấp nhãn hiệu phụ thuộc vào kết quả đo đếm phát thải thực tế. Tuy nhiên, với diện tích mở rộng tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng "gạo Việt xanh, phát thải thấp" có thể tăng gấp đôi so với trước, đạt khoảng 150.000 tấn hoặc cao hơn nếu điều kiện thuận lợi.

- Ông kỳ vọng gì trong tương lai nếu gạo Việt xanh trở thành một cấu phần chính của thương hiệu gạo Việt Nam?

Ông Lê Thanh Tùng: Chúng tôi kỳ vọng thương hiệu gạo này sẽ đi kèm với các tiêu chuẩn gạo ngon, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Khi đó, giá trị không chỉ nằm ở từng lô hàng mà ở hình ảnh quốc gia.

Giảm phát thải không làm hạt gạo ngon hơn, nhưng chắc chắn nâng tầm thương hiệu. Khi thương hiệu quốc gia mạnh lên, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ được củng cố. Đây là câu chuyện dài hạn, bảo vệ thị trường hiện có, mở rộng thị trường mới và tạo nền tảng để hạt gạo Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

- Xin cảm ơn ông!

Theo báo cáo sơ bộ của Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 2/2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 484.000 tấn gạo các loại, đạt kim ngạch 218,9 triệu USD; giá xuất khẩu bình quân khoảng 452 USD/tấn. Trước đó, tháng 1/2026 ghi nhận sản lượng xuất khẩu hơn 651.000 tấn, tương ứng 309,8 triệu USD, với mức giá bình quân gần 476 USD/tấn. Trong bối cảnh nguồn cung gia tăng trong khi thị trường tiêu thụ chịu nhiều sức ép, bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp là tìm hướng đi bền vững cho đầu ra, đặc biệt với phân khúc gạo giảm phát thải, yếu tố đang dần trở thành lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tác giả: Nguyễn Hạnh
Tin liên quan