Dự báo lạm phát năm 2026 quanh 3,5%: Áp lực cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát
TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính).

Phóng viên: Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về diễn biến lạm phát và những yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong năm 2025?

TS. Nguyễn Đức Độ: Theo số liệu mới được Cục Thống kê, Bộ Tài chính, công bố, CPI của Việt Nam tháng 12/2025 đã tăng 3,48% so với cùng kỳ năm 2024, trung bình tăng 0,29%/tháng. Tính trung bình cả năm, CPI tăng 3,31%, cao hơn mức trung bình của giai đoạn 2016-2025 là 3,09%. Như vậy, đây là năm thứ 11 liên tiếp, Việt Nam thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Hơn nữa, nếu tính trong 10 năm gần đây lạm phát khá ổn định.

Trong năm 2025 áp lực lạm phát chủ yếu đến các yếu tố như tăng trưởng tín dụng cao, đạt 17,65%, và tỷ giá tăng 3,92%. Bên cạnh đó, tiêu dùng phục hồi cũng 21 khiến áp lực tăng CPI lớn hơn. Ngoài ra, việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế cũng góp phần vào mức tăng của CPI.

Theo tính toán của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), mức tăng 13,07% của nhóm thuốc và dịch vụ y tế đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung của CPI. Mặc dù gặp nhiều áp lực, tốc độ tăng CPI bình quân năm 2025 vẫn thấp hơn mức 3,63% của năm 2024. Nếu trừ đi tác động từ giá thuốc và dịch vụ y tế, có thể thấy rằng áp lực lạm phát không quá lớn.

Một trong những nguyên nhân chính là do giá nhiều hàng hóa cơ bản trên thế giới như dầu thô, sắt thép, gạo… có xu hướng giảm và trung hòa tác động tăng CPI của tỷ giá. Hơn nữa, các tác động từ tín dụng, tỷ giá thường có độ trễ. Đó là chưa kể, một phần không nhỏ của tăng trưởng tín dụng chảy vào thị trường tài sản, điển hình là thị trường bất động sản. Điều này dẫn đến hệ quả là tăng trưởng tín dụng cao tác động chủ yếu đến giá tài sản, còn tác động đến CPI không quá lớn.

Phóng viên: Vậy, ông dự báo những yếu tố nào sẽ chi phối lạm phát trong năm 2026 và triển vọng CPI của Việt Nam trong năm nay ra sao?

TS. Nguyễn Đức Độ: Trong năm 2026, áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, do mức tăng của tín dụng trong năm 2025 không quá cao so với lịch sử 10 năm trở lại đây, nên tác động đến lạm phát có thể không quá lớn, khi một phần không nhỏ chảy vào thị trường tài sản. Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 cũng tạo sức ép lên giá cả, bởi tăng trưởng GDP cao đồng nghĩa với việc tổng cầu, bao gồm đầu tư và tiêu dùng, đều phải mạnh. Tỷ giá được dự báo cũng sẽ tiếp tục tác động lên CPI trong năm 2026.

Dự báo lạm phát năm 2026 quanh 3,5%: Áp lực cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát
Nguồn số liệu: Cục Thống kê và dự báo của Viện Viện Kinh tế - Tài chính.

Bên cạnh tác động trễ từ năm 2025, áp lực tỷ giá trong năm 2026 được dự báo sẽ đến từ việc đẩy mạnh đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến nhập khẩu tăng theo, trong khi tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2026 gặp thách thức từ tăng trưởng chậm của kinh tế thế giới. Về áp lực đối với lạm phát từ giá hàng hóa cơ bản trên thế giới, có thể nhận định rằng, không quá lớn. Với việc kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng không cao, giá hàng hóa sẽ khó tăng mạnh trong năm 2026, mặc dù dư địa giảm không còn nhiều sau khi giảm mạnh trong năm 2025.

Trong năm 2025, lãi suất có xu hướng tăng nhẹ do tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tăng trưởng huy động. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026 và có tác động kiềm chế lạm phát. Về tổng thể, có thể nhận định rằng áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025, nhưng không nhiều. Tốc độ tăng CPI hàng tháng được dự báo vào khoảng 0,3%/tháng và lạm phát trung bình cả năm 2026 sẽ xoay quanh mức 3,5%.

Phóng viên: Trước những áp lực lạm phát tiềm ẩn, theo ông, Việt Nam cần điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ như thế nào để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2026 và các năm tiếp theo?

TS. Nguyễn Đức Độ: Mặc dù áp lực lạm phát trong năm 2026 không quá cao, nhưng việc thận trọng là cần thiết, bởi áp lực đối với lạm phát từ các yếu tố tiền tệ có thể tích tụ, nếu tăng trưởng tín dụng cao được duy trì trong thời gian dài.

Trong thời gian tới, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, đồng thời duy trì lạm phát dưới mức mục tiêu 4-4,5%, cần có sự phân công và phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Do tỷ lệ tín dụng GDP năm 2025 đã ở mức 146%, thuộc hàng cao so với các nước phát triển cùng trình độ, chính sách tiền tệ nên hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, khống chế nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Để đạt được mục tiêu này, tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng cần được kiểm soát ở mức hợp lý, không để tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh và mạnh, vừa tạo áp lực lên giá cả, đồng thời làm tăng rủi ro nợ xấu. Chính sách tài khóa, do còn dư địa, nên trong thời gian tới có thể hướng tới mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, cần tăng tốc giải ngân đầu tư công.

Hơn nữa, mặc dù tỷ lệ nợ công/GDP còn thấp (khoảng 34% và thấp hơn nhiều so với mức trần 60%), vẫn cần kiểm soát quy mô trả nợ gốc và lãi hàng năm so với thu Ngân sách nhà nước ở mức dưới 25% để đảm bảo an toàn tài khóa, nhất là khi lãi suất đang có xu hướng tăng. Trong dài hạn, tăng trưởng cao không thể dựa vào tăng trưởng cung tiền và tín dụng, mà chỉ có thể đạt được nhờ tăng năng suất lao động trên nền tảng công nghệ.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Ông về những chia sẻ!