Công bố danh mục sản phẩm: Chuẩn hóa thủ tục xuất khẩu sang Trung Quốc
Việc Trung Quốc công bố danh mục quản lý mới theo hướng chi tiết, rõ ràng được đánh giá là bước chuẩn hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Trung Quốc giữ vai trò trụ cột ở nhiều ngành hàng
Tháng đầu năm 2026 ghi nhận tín hiệu tích cực của xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam khi kim ngạch ước đạt gần 6,51 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông sản đạt 3,6 tỷ USD, tăng 41,8%; thủy sản đạt 940 triệu USD, tăng 21,5%; lâm sản đạt 1,72 tỷ USD, tăng 13%; sản phẩm chăn nuôi đạt 47,5 triệu USD, tăng 20,2%.

Năm 2025, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt, chiếm 22,6% tổng kim ngạch và tăng trưởng tới 66,1%. Ảnh: NNVN
Kết quả này cho thấy đà phục hồi rõ nét ngay từ đầu năm, đặc biệt tại thị trường châu Á, khu vực đang chiếm 45,3% thị phần xuất khẩu và tăng 41,1% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt, chiếm 22,6% tổng kim ngạch và tăng trưởng tới 66,1%, cao vượt trội so với Hoa Kỳ (21,6%) và Nhật Bản (19,6%). Diễn biến tăng trưởng mạnh cho thấy, nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đang phục hồi tích cực, tạo dư địa mở rộng cho nhiều nhóm hàng chủ lực.
Ở từng mặt hàng cụ thể, Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí áp đảo. Với cao su, thị trường này chiếm 73,6% thị phần xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2025; riêng tháng 1/2026, kim ngạch đạt 416 triệu USD, tăng 39% về giá trị. Đối với sắn và các sản phẩm từ sắn, Trung Quốc chiếm tới 92,6% thị phần; tháng đầu năm nay đạt 146,6 triệu USD, tăng 47,8%.
Rau quả tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tháng 1/2026, kim ngạch đạt 750 triệu USD, tăng gấp đôi so với cùng kỳ. Trung Quốc chiếm 64,3% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Trung Quốc tăng 18,8%, phản ánh hiệu quả của việc mở rộng xuất khẩu chính ngạch và tuân thủ các nghị định thư song phương.
Với hạt điều, Trung Quốc là thị trường lớn nhất, chiếm 21,3% thị phần và tăng 49,4% trong năm 2025. Trong lĩnh vực thủy sản, Trung Quốc nằm trong nhóm ba thị trường lớn nhất, chiếm 20,2% thị phần và tăng 31,9%. Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, thị trường này chiếm 12,1% thị phần, đứng thứ ba sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Một số mặt hàng khác như chè cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực, dù thị phần chưa lớn. Điều này cho thấy cơ cấu thị trường đang dần đa dạng hơn, song Trung Quốc vẫn giữ vai trò trụ cột ở nhiều nhóm ngành hàng chủ lực.
Công bố danh mục quản lý mới: Minh bạch hóa thay vì “siết chặt”
Ngày 11/2, Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động, thực vật Việt Nam (SPS Việt Nam) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã ban hành quy định mới về quản lý khai báo đối với doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp vào thị trường này.
Theo đó, 2.589 sản phẩm thuộc 20 nhóm mặt hàng khi xuất khẩu vào Trung Quốc phải thực hiện đăng ký và có thư xác nhận của cơ quan thẩm quyền. Danh mục bao gồm thủy sản, trái cây tươi, rau tươi, gia vị, dược liệu, cà phê, các loại hạt, cây giống, ngũ cốc, lá thuốc lá, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm có nguồn gốc động vật.
Doanh nghiệp khi xuất khẩu các sản phẩm thuộc diện này phải kê khai đầy đủ, chính xác mã số đăng ký tại Trung Quốc hoặc mã số đăng ký doanh nghiệp nước ngoài trên tờ khai hải quan. Trường hợp một tờ khai có nhiều mặt hàng, mã số đăng ký phải được kê khai riêng cho từng doanh nghiệp tương ứng với từng sản phẩm.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho rằng: Cần hiểu đúng bản chất của quy định mới, tránh diễn giải theo hướng “siết chặt” gây tâm lý hoang mang cho doanh nghiệp.
Theo ông Nam, đây là hoạt động công bố minh bạch thông tin liên quan đến biện pháp SPS của Thành viên WTO về danh mục sản phẩm thuộc diện phải có thư xác nhận của cơ quan thẩm quyền. Trước đây, theo Nghị định 248, Trung Quốc quy định sản phẩm có rủi ro cao theo 18 nhóm mặt hàng, nay danh mục được chi tiết hơn tới từng sản phẩm cụ thể, giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong tra cứu và thực hiện thủ tục.
Theo quy định của Hiệp định SPS/WTO, các biện pháp SPS phải dựa trên căn cứ khoa học, có đánh giá rủi ro và được thông báo công khai. Do đó, việc công bố lần này được xem là hoạt động minh bạch theo thông lệ quốc tế, áp dụng chung cho tất cả quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc.
Đáng chú ý, danh mục mới bao trùm cả những sản phẩm đã thực hiện theo quy định trước đây, trong đó có các mặt hàng xuất khẩu ổn định theo các nghị định thư như: chuối, thanh long, sầu riêng, sữa, tổ yến… với yêu cầu về mã số vùng trồng/vùng nuôi, cơ sở đóng gói. Doanh nghiệp vẫn đang thực hiện bình thường theo các quy định hiện hành. Tuy nhiên, đối với những sản phẩm mới được phép xuất khẩu vào Trung Quốc, các cơ quan thẩm quyền của Việt Nam sẽ có hướng dẫn cụ thể và công bố công khai trình tự, thủ tục đăng ký để các doanh nghiệp thực hiện.
Về phía Việt Nam, quản lý an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật được phân theo các cơ quan thẩm quyền thuộc 3 Bộ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Y tế).
Trong bối cảnh cao điểm thương mại nông sản dịp tết Nguyên đán, cơ quan chức năng khuyến nghị doanh nghiệp chủ động cập nhật thông tin, rà soát hồ sơ đăng ký, bảo đảm kê khai chính xác để tránh phát sinh vướng mắc khi thông quan.
Mức tăng trưởng 66,1% kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Quốc trong tháng đầu năm 2026 không chỉ phản ánh sự phục hồi nhu cầu thị trường mà còn cho thấy hiệu quả của quá trình chuẩn hóa sản xuất, truy xuất nguồn gốc và chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch.
Trong bối cảnh yêu cầu nhập khẩu ngày càng minh bạch, việc tuân thủ đầy đủ quy định và chủ động thích ứng sẽ là nền tảng để duy trì đà tăng trưởng, đồng thời tạo điều kiện tái cơ cấu thị trường theo hướng ổn định và bền vững hơn trong năm 2026.




In bài viết

