GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Khoa học Giáo dục, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực: Cần “cắm rễ sâu” trong văn hóa Việt

GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc.
Việt Nam với truyền thống nhân nghĩa, đề cao đạo lý và tinh thần cộng đồng bền chặt, đang sở hữu một nền tảng giá trị quan trọng để định hình triết lý giáo dục trong giai đoạn phát triển mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những giá trị truyền thống ấy không bị mờ nhạt trước làn sóng toàn cầu hóa và công nghệ hóa, mà trái lại, trở thành điểm tựa giúp thế hệ trẻ hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ được bản sắc.
Trong bối cảnh đó, mô hình giáo dục khai phóng (khai sáng) gắn với bản sắc dân tộc có thể được xem là một “chìa khóa kép”: Vừa bồi dưỡng tư duy độc lập, năng lực sáng tạo và đổi mới, vừa nuôi dưỡng tinh thần nhân văn, ý thức trách nhiệm với cộng đồng và niềm tự hào văn hóa dân tộc.
Giáo dục tiếp tục giữ vai trò then chốt trong việc trang bị kỹ năng cho con người, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, chuyển đổi xã hội và chuyển đổi công nghệ của thế kỷ XXI. Giáo dục 4.0, với việc ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực sản xuất, năng suất lao động, đồng thời giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết của thời đại mới.
Trong đó, các kỹ năng thế kỷ XXI thường được nhấn mạnh bao gồm tư duy đổi mới, năng lực học tập suốt đời, kỹ năng xã hội và khả năng biểu đạt, quản lý cảm xúc. Tuy nhiên, cách thức tổ chức, quy trình triển khai và mô hình quản lý giáo dục 4.0 vẫn là bài toán mà mỗi quốc gia, mỗi nền giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện khung lý thuyết về giáo dục 4.0, làm rõ nội hàm, quy trình và phương thức thực hành, được xem là yêu cầu quan trọng trong tiến trình chuyển đổi sang xã hội công nghiệp 4.0, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững.
Không gian và thời gian học tập đang và sẽ tiếp tục, thay đổi sâu sắc dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0. Việc tiếp cận tri thức ngày càng trở nên thuận lợi, linh hoạt hơn, qua đó đặt ra thách thức trực tiếp đối với mô hình giáo dục truyền thống vốn lấy lớp học làm trung tâm.
Thời đại số không chỉ làm thay đổi cách con người tiếp cận kiến thức, mà còn đặt ra những yêu cầu mới đối với vai trò và triết lý giáo dục. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một triết lý giáo dục phù hợp với kỷ nguyên kỹ thuật số, đồng thời bảo đảm các giá trị cốt lõi về đạo đức, trách nhiệm xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc, trở thành nhiệm vụ cấp thiết của ngành Giáo dục.
Sự phát triển mạnh mẽ của Internet, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đã hình thành những “không gian công cộng” mới, nơi thông tin được lan truyền với tốc độ nhanh chưa từng có, nhưng không phải lúc nào cũng đi kèm với sự kiểm chứng và ý thức trách nhiệm. Trẻ em và thanh thiếu niên - những “công dân số” trong tương lai đang phải đối mặt với nhiều thách thức, từ thông tin sai lệch, nội dung độc hại đến áp lực từ cộng đồng mạng.
Trước thực tiễn đó, giáo dục cần vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống, không chỉ trang bị kiến thức, mà còn hình thành cho người học năng lực tự chủ, ý thức trách nhiệm và đạo đức trong môi trường số. Một hệ giá trị mới cần được bồi đắp, trong đó nhấn mạnh sự tôn trọng quyền riêng tư, khả năng thấu cảm với người khác trên không gian mạng, cũng như nhận thức đầy đủ về những hệ quả xã hội của các hành vi “ảo” nhưng có tác động thật.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội: “Giáo dục khai phóng, STEM-AI và phát triển bền vững”

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để tạo bước bứt phá mạnh mẽ. Tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quá trình chuyển đổi số cùng tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục. Đó là đào tạo nguồn nhân lực vừa thấm nhuần tinh thần dân tộc, vừa có năng lực hội nhập toàn cầu; vững vàng giá trị truyền thống nhưng đủ khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo.
Những năm qua, giáo dục Việt Nam đã có nhiều nỗ lực đổi mới và hội nhập. Tuy nhiên, hệ thống vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của mô hình giáo dục truyền thống với cách tiếp cận “học để thi”, thiên về ghi nhớ, thiếu gắn kết với thực tiễn. Việc phát triển tư duy phản biện, sáng tạo và năng lực hợp tác liên ngành còn hạn chế, qua đó làm suy giảm khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Từ thực tiễn đó, việc xây dựng một triết lý giáo dục mới, đóng vai trò kim chỉ nam cho chính sách và hành động trong kỷ nguyên mới, là yêu cầu mang tính căn bản. Triết lý này cần được xây dựng trên sự kết hợp chặt chẽ của ba trụ cột: Giáo dục khai phóng; giáo dục STEM gắn với trí tuệ nhân tạo (AI); và phát triển bền vững. Đây là nền tảng cho một nền giáo dục hiện đại, nhân văn, sáng tạo và hướng tới phát triển lâu dài.
Trong đó, giáo dục khai phóng hướng tới phát triển con người toàn diện, đặt trọng tâm vào tư duy phản biện, nền tảng đạo đức, năng lực công dân số, hiểu biết về văn hóa, lịch sử và truyền thống dân tộc, cùng khả năng học tập suốt đời. Giáo dục STEM tập trung bồi dưỡng năng lực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, giúp người học nắm vững tri thức cốt lõi của kỷ nguyên công nghệ, tăng cường khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tiếp cận liên ngành và học tập thông qua các dự án gắn với đời sống.
Đối với trí tuệ nhân tạo, giáo dục không chỉ dừng ở việc trang bị kiến thức nền tảng và kỹ năng sử dụng, mà còn hướng tới năng lực phát triển và ứng dụng AI một cách có trách nhiệm. Điều này bao gồm việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, bảo đảm an toàn dữ liệu, tính minh bạch và công bằng trong quá trình khai thác, sử dụng công nghệ.
Bên cạnh đó, giáo dục vì sự phát triển bền vững giúp người học hình thành tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn, hướng tới sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa phát triển kinh tế với các giá trị văn hóa, truyền thống, dân tộc và tôn giáo. Việc giải quyết các vấn đề hiện tại cần được đặt trong mối liên hệ với lịch sử, kế thừa nền tảng của quá khứ và bảo đảm tính bền vững cho tương lai.
Để kết hợp hài hòa giáo dục khai phóng, STEM và AI hướng tới một nền giáo dục phát triển bền vững, trước hết cần xây dựng các chương trình giáo dục tích hợp. Theo đó, học sinh, sinh viên được trang bị nền tảng kiến thức khai phóng với các môn học như triết học, logic, tư duy phản biện, đạo đức, lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại.
Song song với đó, giáo dục STEM và AI cần được triển khai từ sớm, không chỉ như những môn học độc lập, mà như một cách tiếp cận giáo dục, thông qua học tập dựa trên dự án, giải quyết các vấn đề thực tiễn, gắn kiến thức với kỹ năng, tư duy hệ thống, tầm nhìn dài hạn và định hướng phát triển bền vững.

Cô trò Trường THCS Đống Đa (Kim Liên, Hà Nội).
Thứ hai, cần chú trọng đào tạo lại và phát triển đội ngũ giáo viên. Việc hình thành các trung tâm bồi dưỡng giảng viên về STEM tích hợp AI, cùng với kỹ năng sư phạm khai phóng, tư duy hệ thống, thiết kế, phản biện và đổi mới sáng tạo, là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng những thay đổi của giáo dục trong thời đại mới.
Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chuyển từ dạy – học thiên về ghi nhớ và thi cử sang phát triển năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo và hợp tác. Việc giảng dạy liên ngành cần được tăng cường, thông qua các dự án STEM tích hợp và các mô hình “AI + X” (AI kết hợp với các lĩnh vực như y sinh, nông nghiệp, đô thị, logistics…). Đồng thời, cần quan tâm phát triển tài nguyên giáo dục mở, khoa học mở và dữ liệu mở có kiểm soát.
Thứ tư, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá. Thay vì chỉ đo lường mức độ ghi nhớ kiến thức, việc đánh giá cần tập trung vào tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, năng lực thích ứng, giao tiếp và làm việc nhóm của người học.
Thứ năm, tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp và cộng đồng. Các trường đại học cần được phát triển trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với hệ sinh thái địa phương. Học sinh, sinh viên cần có cơ hội tham gia các dự án thực tế, trực tiếp giải quyết những vấn đề của cộng đồng và doanh nghiệp, qua đó phát huy hiệu quả mô hình liên kết “bốn nhà”: Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp - nhà khoa học.
Thứ sáu, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện triển khai, bao gồm hạ tầng kỹ thuật, nền tảng chuyển đổi số và khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục.
Cuối cùng, cần xây dựng các chính sách tài chính ưu tiên cho những chương trình tích hợp giáo dục khai phóng, STEM và AI; đồng thời thành lập quỹ quốc gia nhằm hỗ trợ các mô hình giáo dục tiên phong tại các trường trọng điểm cũng như ở những địa phương, khu vực còn nhiều khó khăn.
Triết lý giáo dục không chỉ là một khẩu hiệu, mà phải trở thành tinh thần chỉ đạo xuyên suốt trong mọi chính sách, chương trình, cách tổ chức và phương thức dạy - học. Việc sớm xác lập một triết lý giáo dục tiến bộ, nhân văn, hướng tới phát triển bền vững và phù hợp với bối cảnh mới sẽ đóng vai trò kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động giáo dục - đào tạo.
Triết lý đó nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện, vừa có năng lực học thuật và công nghệ, vừa có nhân cách, bản lĩnh và đạo đức; qua đó tạo nền tảng để Việt Nam phát triển bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, xây dựng xã hội học tập, hình thành đội ngũ công dân số và một quốc gia đổi mới sáng tạo.
GS.TSKH Dương Quý Sỹ - Chủ tịch Hội đồng Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng: Củng cố nền tảng triết lý “giáo dục mở - số hóa - liên thông - lấy người học làm trung tâm”

GS.TSKH Dương Quý Sỹ.
Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ chưa từng có, với sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và các nền tảng kết nối toàn cầu. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế, phương thức sản xuất, hình thức giao tiếp, đặc biệt là cách con người tiếp cận, xử lý và ứng dụng tri thức.
Trong bối cảnh đó, giáo dục – với vai trò là nền tảng phát triển con người và động lực then chốt cho sự phát triển quốc gia – đứng trước yêu cầu phải đổi mới một cách toàn diện, từ tư duy, nội dung đến phương pháp và mô hình tổ chức.
Các phương thức dạy – học truyền thống đang dần bộc lộ những hạn chế khi khó đáp ứng yêu cầu học tập linh hoạt, cá nhân hóa và học tập suốt đời của người học trong môi trường số hóa. Đồng thời, năng lực công dân số, tư duy phản biện, sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với biến đổi trở thành những yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực hiện đại.
Trước yêu cầu thực tiễn đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đang từng bước thể chế hóa những định hướng đổi mới căn bản giáo dục, tạo nền tảng cho việc xây dựng một nền giáo dục mở, linh hoạt, hiện đại và nhân văn. Triết lý giáo dục trong thời đại số vì thế không chỉ mang ý nghĩa học thuật, mà còn giữ vai trò kim chỉ nam cho toàn bộ hệ thống giáo dục trong việc hình thành các thế hệ công dân mới - chủ động, sáng tạo và có trách nhiệm xã hội.
Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã kế thừa và xác lập một tầm nhìn triết lý mới cho giáo dục Việt Nam trong thời đại số. Nghị quyết không chỉ củng cố nền tảng triết lý “giáo dục mở – số hóa – liên thông – lấy người học làm trung tâm”, mà còn nhấn mạnh cơ chế thực thi thông qua việc trao quyền tự chủ có điều kiện, gắn với trách nhiệm giải trình dựa trên dữ liệu và kiểm định chất lượng. Đây được xem là con đường để hệ thống giáo dục Việt Nam vừa giữ vững bản sắc, vừa hội nhập sâu rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên số.
Những tư tưởng chủ đạo trong chính sách giáo dục hiện hành thể hiện quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, toàn diện trên nhiều phương diện: Từ xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, chất lượng cao; gắn giáo dục với thực tiễn và nhu cầu của thị trường lao động; thúc đẩy công bằng trong tiếp cận giáo dục; đến coi chuyển đổi số là động lực và phương thức đổi mới căn bản giáo dục.
Các định hướng này không chỉ phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước, mà còn khẳng định nền tảng lý luận và triết lý sâu sắc về vai trò của giáo dục trong phát triển con người – nguồn lực quý giá nhất trong kỷ nguyên số.
Tuy nhiên, để triết lý giáo dục thời đại số thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cần có sự triển khai đồng bộ, quyết liệt các nghị quyết, chính sách đã ban hành. Điều này đòi hỏi đầu tư thích đáng cho hạ tầng công nghệ, nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên, xây dựng các chương trình giáo dục linh hoạt, kịp thời đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Cùng với đó, việc bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục cần được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với học sinh, sinh viên và người lao động chưa qua đào tạo, nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của đất nước. Triết lý giáo dục trong thời đại số, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ trở thành nền tảng vững chắc để xây dựng xã hội học tập, góp phần đưa đất nước phát triển toàn diện, công bằng, văn minh và thịnh vượng.
Triết lý giáo dục trong thời đại số không nằm ở công nghệ nào mới nhất, mà ở chính cách ta nuôi dưỡng thế hệ biết sử dụng công nghệ để làm điều đúng đắn, sống có giá trị và kiến tạo tương lai nhân văn hơn. - GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc.





In bài viết

